vanban.org

Bản án 47/2017/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp dân sự về hụi"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SA ĐÉC
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 47/2017/DS-ST
Ngày: 18 - 9 - 2017.
V/v tranh chấp Hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Danh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Mỹ Lợi.

2. Ông Nguyễn Văn Hai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thanh Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2017/TLST-DS, ngày 24 tháng 02 năm 2017 về “Tranh chấp Hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2017/QĐXX-ST, ngày 31 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị X - sinh năm: 1952; địa chỉ: khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc V - sinh năm: 1974; địa chỉ: khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Bà X có mặt tại phiên tòa, bà V vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, nguyên đơn là bà Lê Thị X trình bày:

Nguyên trước đây vào khoảng tháng 7/2015 âm lịch, bà X có làm chủ hụi; cụ thể như sau: Hụi khui lần đầu vào ngày 15/7/2015 âm lịch, kết thúc vào ngày 15/02/2017 âm lịch, mệnh giá 300.000 đồng/phần, 01 tháng khui 01 lần vào ngày 15 âm lịch, dây hụi gồm 20 hụi viên, mỗi hụi viên tham gia 03 phần, tổng cộng là 60 phần, thỏa thuận tiền hoa hồng (đầu thảo) là 150 đồng/phần. Bà V (tên trong giấy hụi là vợ D) tham gia 03 phần, hụi đã khui được 02 lần, đến lần thứ 3 là vào ngày 20/9/2015 âm lịch thì bà V bỏ hụi 110.000 đồng để hốt hụi được số tiền là: 11.490.000 đồng, trừ tiền huê hồng là 450.000 đồng (03 phần x 150.000 đồng), bà V nhận được số tiền là: 11.040.000 đồng (11.490.000 - 450.000 đồng). Sau khi hốt hụi bà V đã đóng hụi chết đến tháng 10/2016 âm lịch được 15 lần với số tiền là: 12.900.000 đồng. Như vậy bà V còn phải đóng hụi chết lại cho bà X với số tiền là: 3.600.000 đồng (04 lần hụi chết x 300.000 đồng x 03 phần).

Nay bà X đồng ý giảm cho bà V 2.600.000 đồng, bà X xác định chỉ yêu cầu bà V trả cho bà X số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là: 1.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra, bà X không có yêu cầu gì khác và cũng không có yêu cầu ai khác liên đới trách nhiệm cùng với bà V trả nợ cho bà X.

Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, bị đơn là bà Nguyễn Ngọc V trình bày:

Bà V thừa nhận có tham gia chơi hụi do bà X làm chủ hụi như bà X trình bày, bà V đã hốt hụi và nhận được 11.040.000 đồng. bà V đã đóng hụi chết được đến tháng 10/2016 âm lịch thì ngưng không đóng nữa được tổng cộng là 12.900.000 đồng; còn lại 04 lần hụi chết x 03 phần bà V chưa đóng do bà X đã bể hụi không khui tiếp và bà X chỉ trả cho các hụi viên khác một phần hay phân nửa tiền nợ hụi thì hụi viên đã xóa hết nợ cho bà X. Đồng thời, bà V đã đóng dư cho bà X số tiền là 1.860.000 đồng so với số tiền hốt được là 11.040.000 đồng. Do đó, bà V không đồng ý trả thêm cho bà X bất kỳ khoản tiền hụi nào nữa. Ngoài ra, bà V không có tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ kiện này với bà X.

Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là 1.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, Nguyên đơn là bà Lê Thị Xvà bị đơn là bà Nguyễn Ngọc V đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy trường hợp vắng mặt của bà X và bà V tại phiên tòa không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của bà Lê Thị X, Hội đồng xét xử nhận thấy.

Bà Nguyễn Ngọc V thừa nhận có tham gia chơi hụi do bà X làm chủ, loại hụi hưởng huê hồng, dây hụi 300.000 đồng/tháng, khui lần đầu vào ngày 15/7/2015 âm lịch, gồm 20 hụi viên, mỗi hụi viên tham gia 03 phần, tổng cộng là 60 phần, bà V (tên trong giấy hụi là vợ D) tham gia 03 phần, đây là chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tuy nhiên, bà V không đồng ý đóng hụi tiếp cho bà X vì bà X đã tuyên bố bể hụi không khui tiếp và sau khi bể hụi bà X chỉ trả cho các hụi viên một phần hay phân nửa tiền nợ hụi thì hụi viên đã xóa hết nợ cho bà X; đồng thời, bà V cho rằng đã đóng dư cho bà X số tiền là 1.860.000 đồng so với số tiền hụi hốt được là 11.040.000 đồng cho nên bà V không đồng ý trả thêm cho bà X bất kỳ khoản tiền hụi nào nữa nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh nên lời trình bày của bà V là không có căn cứ chấp nhận.

Mặt khác, Hội đồng xét xử xét thấy: Tuy bà X đã tuyên bố bể hụi nhưng bà V là hụi viên đã hốt hụi cho nên phải có nghĩa vụ đóng hụi chết cho chủ hụi. Đồng thời, việc bà X thỏa thuận thực hiện trả nợ cho các hụi viên và được các hụi viên tự nguyện giảm bớt cho bà X do thấy hoàn cảnh của bà X gặp khó khăn là giao dịch riêng giữa bà X với các hụi viên khác, không liên quan đến việc bà V còn nợ tiền hụi của bà X. Do đó, việc bà V không đồng ý đóng hụi tiếp cho bà X với những lý do đã nêu là không có cơ sở để chấp nhận.

Tại khoản 3 Điều 28 của Nghò" ñònh" soá:" 144/2006/NÑ-CP," ngaøy" 27/11/2006"cuûa"Chính"phuû"quy"ñònh"veà"quyền của chủ họ trong họ hưởng hoa hồng như sau:

“3. Yêu cầu thành viên không góp phần họ của mình phải hoàn trả phần họ trong trường hợp chủ họ đã góp thay cho thành viên đó”.

Tại Điều 30 của Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP, ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về trách nhiệm của thành viên do không góp họ như sau :

“1. Trong trường hợp thành viên không góp phần họ khi đến kỳ mở họ thì thành viên đó phải thanh toán đủ phần họ còn thiếu tương ứng với thời gian chưa thanh toán cho đến thời điểm kết thúc họ và bồi thường thiệt hại nếu có…”.

Do đó, xét yêu cầu của bà X yêu cầu bà V trả số tiền nợ hụi của 04 lần hụi chết, mỗi lần là 900.000 đồng, thành tiền là 3.600.000 đồng; bà X tự nguyện giảm cho bà V 2.600.000 đồng, chỉ yêu cầu bà V trả số tiền nợ hụi là 1.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Buộc bà phải có nghĩa vụ trả cho bà X số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là 1.000.000 đồng. Bà X không yêu cầu tính lãi và cũng không yêu cầu ai khác liên đới trả nợ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp; bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều"35;"điểm a khoaûn" 1 Đieàu"39;"Đieàu"228"và"Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Căn cứ vào các Điều 24, Điều 25, Điều 28 và Điều 30"của Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP, ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu phường.

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị X.

- Buộc bà Nguyễn Ngọc V trả cho bà Lê Thị X số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là: 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Bà Nguyễn Ngọc V nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

+ Bà Lê Thị X được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 06436 ngày 23/02/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Lê Thị X mà bà Nguyễn Ngọc V chưa thi hành xong số tiền trên thì phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Danh

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ