vanban.org

Bản án 47/2017/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng các các Điều 26, 35, 39, 147, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị T. Buộc chị Phan Thị Th có nghĩa vụ bồi thường cho bà Thái Thị T số tiền là 2.222.399đ. 2/ Không chấp nhận yêu cầu của bà Thái Thị T yêu cầu anh Mai Thanh B và chị Phan Thị Th bồi thường số tiền điều trị các bệnh kèm theo là 267.610đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Thái Thị T với Phan Thị Th"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng các các Điều 26, 35, 39, 147, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƯỚC LONG
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2017/DS-ST
Ngày: 22/9/2017
V/v “Yêu cầu bồi thường thiệt hại
do sức khỏe bị xâm phạm”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lư Trường Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Chiếu

2. Bà Nguyễn Hồng Lành

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2017/TLST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2017 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2017/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 7 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 103/2017/QĐST-DS ngày 07 tháng 9 năm 2017, giữa:

Nguyên đơn: Bà Thái Thị T - sinh năm 1956

Địa chỉ: ấp L, thị trấn Ph, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: chị Phạm Thị H – sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp L, thị trấn Ph, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (theo văn bản ủy quyền ngày 08/9/2017).

Đồng bị đơn: Chị Phan Thị Th - sinh năm 1982

Anh Mai Thanh B – sinh năm 1978

Địa chỉ: ấp L, thị trấn Ph, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Mai Thanh B là chị Phan Thị Th – sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp L, thị trấn Ph, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (theo văn bản ủy quyền ngày 30/8/2017).

(Chị H, chị Th có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 19/6/2017 và các lời khai trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Thái Thị T trình bày:

Vào ngày 31/3/2017, anh Mai Thanh B, chị Phan Thị Th với chị Phạm Thị H (con gái bà T) có xảy ra cải vả và xô xát nhau, bà T ra can ngăn thì anh B dùng chân đạp trúng bụng bà T khiến bà T bị thương tích. Do đó, bà T yêu cầu anh B, chị Th bồi thường các khoản sau: Tiền viện phí điều trị 12 ngày là 890.000đ, tiền ăn người bệnh 12 ngày là 600.000đ; Tổng cộng là 1.490.000đ. Để chứng minh cho yêu cầu của mình, bà T có cung cấp bệnh án, giấy ra viện, hóa đơn chứng từ điều trị.

Tại phiên tòa ngày 25/8/2017, bà T yêu cầu anh B, chị Th bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 1.000.000đ.

* Đồng bị đơn chị Phan Thị Th trình bày:

Vào ngày 31/3/2017, chị Th và chị H (con gái bà T) có cải vã dẫn đến xô đẩy nhau, bà T chạy ra dùng tay nắm tóc, đè đầu chị Th xuống; chị Th thừa nhận có dùng chân đạp trúng bà T nhưng không biết trúng đâu. Chị Th xác định chị và anh B không có đánh bà T nên không đồng ý bồi thường.

* Đồng bị đơn anh Mai Thanh B trình bày:

Anh B không thừa nhận có đánh bà T nên không đồng ý bồi thường.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự chấp hành đúng pháp luật.

Về nội dung vụ án: Bà T cho rằng anh B dùng chân đạp vào bụng của bà gây thương tích, nhưng anh B không thừa nhận sự việc như bà T trình bày, anh B chỉ can ngăn chị Th và chị H đánh nhau. Căn cứ vào hồ sơ vụ án không có cơ sở để xác định anh B là người gây thương tích cho bà T, do đó bà T yêu cầu anh B bồi thường thiệt hại là không có căn cứ để chấp nhận.

Chị Th yêu cầu xác minh những người làm chứng là chị C, chị N, chị M. Qua xác minh chị N, chị M không làm việc được, còn chị C xác định chị C chỉ thấy chị Th vùng vẫy đạp chân còn hai tay nắm đầu chị H và chỉ thấy bà T té ngã xuống đất. Theo lời trình bày của chị C cũng không nhìn thấy chị Th đạp bà T. Mặc dù bà T cho rằng chị Th không phải là người gây thương tích cho bà nhưng bản thân chị Th đã thừa nhận chị là người dùng chân đạp vào người của bà T và bà T đã nằm viện để điều trị thương tích (bút lục 26, 30). Từ đó, có căn cứ để xác định thương tích trên người của bà T là do chị Th trực tiếp gây nên.

Hành vi của chị Th là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm. Hậu quả của hành vi trên là việc bà T phải đi điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa huyện Phước Long từ ngày 31/3/2017 đến ngày 11/4/2017.

Chị Th là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, hành vi của chị Th đã gây tổn hại đến sức khỏe của bà T, chị Th phải có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật. Xét về lỗi, giữa chị Th với chị H có xảy ra cự cải, đánh nhau và bà T vào can ngăn thì bị chị Th dùng chân đạp vào bụng, do đó lỗi hoàn toàn thuộc về chị Th.

Các khoản chi phí bà T yêu cầu cụ thể như sau:

+ Tiền viện phí chỉ chấp nhận số tiền điều trị thương tích của bà T là 622.399 đồng theo Công văn số 159 ngày 29/8/2017 của Bệnh viện đa khoa huyện Phước Long. Tiền ăn uống khi nằm viện điều trị 600.000 đồng (50.000 đồng/01 ngày x 12 ngày): Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự, đây là chi phí hợp lý cho việc bồi dưỡng phục hồi sức khỏe nên được chấp nhận. Tiền bồi thường về tổn thất tinh thần: bà T yêu cầu 1.000.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 590 BLDS 2015, chấp nhận số tiền 1.000.000 đồng. Có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu của bà Thái Thị T. Buộc chị Phan Thị Th có nghĩa vụ bồi thường cho bà T tổng số tiền 2.222.399 đồng. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T yêu cầu anh Mai Thanh B bồi thường thiệt hại.

Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Thái Thị T có đơn yêu cầu Toàn án giải quyết buộc anh Mai Thanh B và chị Phan Thị Th bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Anh B, chị Th có địa chỉ cư trú tại huyện Phước Long nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phước Long theo quy định tại Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa, anh B, chị Th không thừa nhận gây thương tích cho bà T vào ngày 31/3/2017. Tuy nhiên, theo các lời khai của những người chứng kiến sự việc (Bút lục số 24, 28, 60-61) vào ngày 31/3/2017, chị Th và chị H (con bà T) có cự cải dẫn đến câu vật, bà T chạy đến can ngăn; anh B không có tham gia khi xảy ra xô xát, anh B chỉ vào can mọi người ra. Do đó, không có cơ sở để xác định anh B là người gây thương tích cho bà T.

Tuy nhiên, tại lời khai (bút lục số 26), chị Th thừa nhận: “...tôi mới có hành vi đạp thì tôi không biết trúng đâu nhưng xong rồi tôi mới biết là đã trúng bà T ...”. Do đó, có căn cứ xác định chị Th dùng chân đạp trúng bà T khiến bà T bị thương tích là có xảy ra trên thực tế nên chị Th có nghĩa vụ bồi thường các chi phí hợp lý cho việc điều trị của bà Tám.

Xét yêu cầu của bà T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì sau khi bị đạp trúng, bà T nhập viện điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện Phước Long vào lúc 14 giờ 15 phút ngày 31/3/2017 và xuất viện lúc 10 giờ 00 phút ngày 11/4/2017 với các chẩn đoán: chấn thương vùng thượng vị do bị đánh/ tăng huyết áp, thiếu máu não, tăng mỡ máu. Tại phiên tòa ngày 25/8/2017, bà T thừa nhận bản thân có tiền sử thiếu máu cơ tim, thường đi khám định kỳ do tăng huyết áp, nhức đầu, nóng lạnh.

Tại công văn số: 159/BVPL-KHTH ngày 29/8/2017 của Bệnh viện đa khoa huyện Phước Long xác định: căn cứ bệnh án số 2017003835 của người bệnh Thái Thị T nhập viện điều trị tại Khoa Ngoại phẫu thuật – Gây mê hồi sức với chẩn đoán là: chấn thương vùng thượng vị khai do bị đánh/ tăng huyết áp, thiếu máu não, tăng mỡ máu. Đối với trường hợp này, chi phí khám bệnh, chữa bệnh nội trú cho bà Thái Thị T được tính trên hai khoản: điều trị chấn thương là 622.399đ và điều trị các bệnh kèm theo là 267.610đ; tổng cộng 890.009đ. Các bệnh kèm theo không phải do nguyên nhân chấn thương gây ra và bà T đã chi trả toàn bộ chi phí điều trị.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; …

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; …

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T với các khoản cụ thể như sau:

- Tiền thuốc điều trị chấn thương là 622.399đ.

- Bà T yêu cầu tiền ăn bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bệnh với mức 50.000đ/ngày trong thời gian 12 ngày là 600.000đ, đây là khoản chi phí hợp lý nên được chấp nhận.

Ngoài khoản tiền phải bồi thường nêu trên thì người gây thiệt hại còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần do người bị thiệt hại gánh chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Đối với số tiền tổn thất tinh thần bà T và chị Th không thỏa thuận được mức bồi thường. Xét thấy, thương tích của bà T là do chị Th gây ra nên bà T yêu cầu chị Th bồi thường tổn thất tinh thần 01 khoản bằng 1.000.000đ là có căn cứ được chấp nhận.

Tổng cộng, buộc chị Phan Thị Th có nghĩa vụ bồi thường cho bà Thái Thị T số tiền 2.222.399đ.

Bà T không yêu cầu tiền mất thu nhập của người bệnh và người nuôi bệnh trong thời gian điều trị, Hội đồng xét xử xét thấy đây là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự khi yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, buộc chị Th nộp 300.000đ. Các đương sự khác không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các các Điều 26, 35, 39, 147, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng khoản 2 Điều 357; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng áp phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị T. Buộc chị Phan Thị Th có nghĩa vụ bồi thường cho bà Thái Thị T số tiền là 2.222.399đ.

2/ Không chấp nhận yêu cầu của bà Thái Thị T yêu cầu anh Mai Thanh B và chị Phan Thị Th bồi thường số tiền điều trị các bệnh kèm theo là 267.610đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3/ Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, buộc chị Phan Thị Th nộp 300.000đ. Các đương sự khác không phải nộp án phí.

4/ Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ