vanban.org

Bản án 469/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 27/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Nguyễn Thái H 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thái H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 469/2018/HSST
Ngày: 27/11/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan.

Ông Phạm Doãn Đức.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Lê Văn Cao – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 449/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:464/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thái H, sinh ngày 16 tháng 02 năm 1993 tại Nghệ An; Nơi cư trú: thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1969 và bà Lê Thị L, sinh năm: 1970; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam ngày 20/9/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Diêm Công G, sinh năm 1995

Trú tại: Tổ 31, KP5A, Phường .L, Thành phố B, Đồng Nai (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 14/6/2018, Nguyễn Thái H đi bộ vào khu vực nhà trọ thuộc tổ 31, khu phố 5A, phường L, thành phố B để xem ai sơ hở trong việc quản lý tài sản thì trộm cắp, khi đi đến phòng trọ của anh Diêm Công G thuê ở thì H phát hiện cửa khóa ngoài, dãy phòng trọ vắng người qua lại, bên trong phòng có 01 chiếc xe mô tô nên H nhặt 01 cây sắt dài khoảng 45 cm ở gần đó cạy bung ổ khóa cửa đột nhập vào bên trong lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 60B4-044.14 dắt bộ ra ngoài đường B vào một tiệm sửa xe bên đường (không rõ địa chỉ) thay ổ khóa xe rồi điều khiển xe về phòng trọ cất giấu, sau đó H gắn biển số giả 78H3-6653 vào xe để tránh bị phát hiện và dùng chiếc xe trên làm phương tiện đi lại. Đến 20 giờ 30 phút ngày 20/6/2018, H sử dụng chiếc xe trên chở người tên L (chưa rõ họ, địa chỉ) đi uống nước mía thì xe bị hỏng nên cả hai đưa xe vào tiệm sửa xe “Q”, địa chỉ : tổ 17, khu phố 6, phường L, thành phố B do anh Nguyễn Quang T, sinh năm 1990 để sửa, do trời tối nên anh T hẹn để xe lại ngày mai quay lại lấy, nên H và L để xe lại và đi bộ về, đến khoảng 21 giờ cùng ngày anh G đi ngang qua tiệm sửa xe Q thì phát hiện chiếc xe của mình đang trong tiệm, biết đối tượng trộm xe sẽ quay lại lấy nên anh G cùng với anh Lê Thanh S, sinh năm 1986, ngụ tại ấp T, xã P, thành phố B đã đứng chờ gần tiệm sửa xe, khoảng 13 giờ ngày 21/6/2018, H đi bộ đến tiệm sửa xe Q lấy xe thì bị anh G và anh S giữ lại báo Công an phường L, đưa về phường lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa để điều tra xử lý.

Vật chứng thu giữ gồm: - 01 xe mô tô hiệu Sirius, số khung C640B 476644, số máy : 5C64476647, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại cho anh Diêm Công G; - 01 biển số xe mô tô giả 78H3-6653; - 01 biển số xe mô tô 60B4-044.14, thì H đã vứt ở bãi rác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa không thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 190/TCKH-HĐĐG ngày 29/06/2018, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã kết luận một xe mô tô biển số 60B4-044.14 số máy : 564476647, số khung C640B 476644, có giá trị định giá tài sản là 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

Tại cáo trạng số 428/CT/VKS-BH ngày 01 tháng 11 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Thái H, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Nguyễn Thái H từ 06 (sáu) đến 08 (tám) tháng tù;

- Bị cáo Nguyễn Thái H không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thái Hùng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có cơ sở xác định nội dung vụ án như sau: Khoảng 11 giờ ngày 14/06/2018, Nguyễn Thái H đã có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô biển số 60B4-044.14, trị giá 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng) của anh Diêm Công G để ở phòng trọ thuộc tổ 31, khu phố 5A, phường L, thành phố B, sau đó thì bị bắt giữ để điều tra xử lý.

Về tội danh: Qua nội dung vụ án, xét thấy lợi dụng việc sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo Nguyễn Thái H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Diêm Công G với tổng giá trị là 7.200.000đ (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thái H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân thành phố Biên Hòa đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.

Về tính chất, mức độ hành vi:Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào tính chất mức độ tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có mức hình phạt nghiêm tương xứng với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng khoản 1 điều 54 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Căn cứ khoản 1, khoản 2, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Sirius, số khung C640B 476644, số máy : 5C64476647, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại cho anh Diêm Công Giang, nên không đặt ra xem xét.

Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe mô tô giả 78H3-6653 vì không có giá trị sử dụng.

Đối với 01 biển số xe mô tô 60B4-044.14, thì Hùng đã vứt ở bãi rác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự : Ông Diêm Công G đã nhận lại xe nên không yêu cầu bồi thường.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thái H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy tương đối phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Thái H 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2018.

3. Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Căn cứ khoản 1, khoản 2, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe mô tô giả 78H3-6653 vì không có giá trị sử dụng.

(Toàn bộ vật chứng nêu trên được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng vào ngày 21/11/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự TP.Biên Hòa).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thái H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo Nguyễn Thái H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Quyền này là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án đối với người bị hại vắng mặt tại phiên tòa hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ