vanban.org

Bản án 467/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Đống Đa, TP. Hà Nội Tuyên án 31/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hùng M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hùng M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hùng M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 467 /2024/HS-ST
Ngày: 31/12/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Hách

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Cờ

Bà Vũ Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Xuân Giang – Thư ký Tòa án nhân dân

quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa,

thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 449/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 447/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Hùng M - sinh năm 1984; Giới tính: Nam; Nơi

ĐKHKTT: Xóm E, thôn Y, xã Y, huyện M, Hà Nội; Chỗ ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn Đ (Đã chết) và bà Vũ Thị T; Vợ: Phạm Thị T1, sinh năm 1986 và có 2 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2011); Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số 0******** Do Công an Quận Đ lập ngày 17/10/2024; Bị cáo bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 07/10/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H (Có mặt)

Người bị hại:

Anh Nguyễn Tuấn P, sinh năm 2001

Địa chỉ: Số F ngõ F đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Có

đơn xin xử vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Mai Xuân T2, sinh năm 1990

Trú tại: A T, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin xử vắng

mặt)

2. Anh Nguyễn Quang A, sinh năm 1993

Địa chỉ: thôn B, xã B, huyện Đ, thành phố Hà Nội. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hùng M được thuê đến lắp đặt điện nước tại công trình nhà của

anh Nguyễn Tuấn P (Sinh năm: 2001; Trú tại: Xóm X, xã H, huyện S, Hà Nội) tại địa chỉ số F ngõ F Đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội, nên biết rõ tại công trình có để 09 bộ điều hòa nhãn hiệu Funiki 9000 BTU 1 chiều, ở gầm cầu thang tầng 1.

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 04/10/2024, trên đường đi về nhà M đã nảy

sinh ý định trộm cắp số điều hòa trên để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. M bắt xe ôm quay trở lại công trình, lấy chiếc chìa khóa nhà cài ở cửa sổ rồi gửi chìa khóa cho chị Trương Thị H (Sinh năm: 1974; Trú tại: Số D tổ D Pháo Đài L, phường L, quận Đ, Hà Nội) – là chủ quán nước ở trước số B ngõ A N, phường L, quận Đ, Hà Nội. Tại đây, M lên mạng tìm hình ảnh mẫu điều hòa tương ứng, dùng tài khoản Facebook “Nguyễn L” nhắn tin cho Mai Xuân T2 (Sinh năm: 1990; Trú tại: Khu B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương – là người đăng tin mua bán đồ điện thanh lý trên mạng xã hội Facebook) nói cần thanh lý 09 bộ điều hòa. T2 và M thỏa thuận bán với giá 28.500.000 đồng.

Sau đó, M gọi điện thuê Nguyễn Xuân T3 (Sinh năm: 1990; Trú tại: Thôn

F, xã P, huyện M, Hà Nội; tên gọi khác là S) và Trần Văn T4 (Sinh năm: 1988; Trú tại: Số C T, xã T, huyện T, Hà Nội; tên gọi khác là H1) đến công trình trên để bê vác số điều hòa này với giá 500.000 đồng; đồng thời thuê 01 xe ô tô tải, BKS: 99H-00362 của Công ty M1 với giá 400.000 đồng do Nguyễn Tùng A1 (Sinh năm: 2004; Trú tại: P, P, Đ, Hà Nội) điều khiển đến công trình để chở điều hòa. Khi xe tải đến, M hướng dẫn T4 và T3 lấy chìa khóa ở quán nước, sau đó mở cửa vào nhà bê 09 bộ điều hòa Funiki từ trong công trình nhà đang xây lên xe tải còn M đứng gần đó để cảnh giới.

Sau khi trộm cắp được 09 bộ điều hòa, M lên xe tải đi cùng Tùng A1 đến

A T, phường C, quận B, Hà Nội bán cho Mai Xuân T2 với giá 28.500.000 đồng, số tiền này M đã tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 06/10/2024, T2 chụp ảnh số điều hòa trên rao bán trên mạng xã hội

và bán lại cho Nguyễn Quang A (Sinh năm: 1993; Trú tại: B, xã B, huyện Đ, Hà Nội) với giá 33.000.000 đồng. Quang A mang số điều hòa này về cửa hàng để tìm người bán lại kiếm lời thì được Cơ quan Công an thông báo số điều hòa trên là tang vật của vụ án nên đã tự nguyện giao nộp lại cho cơ quan Công an.

Ngày 07/10/2024, Nguyễn Hùng M đến Công an phường L đầu thú khai

nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 236/KL-HĐĐGTS ngày 16/10/2024

của Hội đồng định giá tài sản – Ủy ban nhân dân quận Đ kết luận:

“09 bộ điều hòa nhãn hiệu Funiki 9000 BTU còn nguyên hộp chưa qua sử

dụng, đã thu hồi định giá 38.000.000 đồng (ba mươi tám triệu đồng)”.

Đối với Mai Xuân T2 và Nguyễn Quang A là người mua lại 09 bộ điều

hòa trên; Nguyễn Tùng A1 là nhân viên lái xe vận chuyển điều hòa; Nguyễn Xuân T3 và Trần Văn T4 là người được M thuê vận chuyển điều hòa, đều không biết nguồn gốc số điều hòa là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với chị Trương Thị H là chủ quán nước mà M gửi chìa khóa, chị H

không biết mục đích M gửi chìa khóa để làm gì nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ đồ vật, tài sản sau:

- Thu giữ của Nguyễn Văn S1 (Sinh năm: 1995; Trú tại: Thôn C, xã Đ,

huyện H, Hà Nội) – là lái xe của công ty M1 01 chìa khóa màu trắng được buộc dây thép.

- Thu giữ của Nguyễn Hùng M 01 điện thoại Samsung màu ghi đã qua sử

dụng, số Imei 1: 3528***********, số Imei 2: 3528***********, lắp sim số 0*********.

- Thu giữ của Nguyễn Quang A 18 thùng hàng nguyên đai, nguyên kiện

có nhãn mác: Điều hòa không khí Funiki HSC 09TMU.M6 (gồm 09 cụm trong nhà và 09 cụm ngoài trời).

- Thu giữ của Nguyễn Tuấn P 01 khóa “Việt Nhật” màu vàng hình vuông

có vòng chữ “U” màu xám, phần ở khóa cắm chìa còn nguyên vẹn.

Cơ quan điều tra xác định 09 bộ điều hòa nhãn hiệu Funiki 9000 BTU; 01

chìa khóa màu trắng được buộc dây thép và 01 khóa Việt Nhật màu vàng, hình vuông có vòng chữ “U” màu xám là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Tuấn P. Cơ quan điều tra đã trao trả lại tài sản trên cho anh P, anh P đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh

Nguyễn Quang A yêu cầu được đền bù số tiền mua 09 bộ điều hòa là 33.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 464/CT-VKS ngày 27/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân

quận Đống Đa đã truy tố bị cáo Nguyễn Hùng M về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa giữ nguyên

quan điểm truy tố nêu trên và đề nghị áp dụng:

- Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,

Điều 38, 47 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng M từ 20 đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bồi thường nên

không xem xét.

Bị cáo tự nguyện hoàn trả số tiền 33.000.000 đồng cho người có quyền lợi

nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Quang A nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động thu

giữ của bị cáo.

Miễn phạt tiền cho bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có

quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Quang A có mặt tại

phiên tòa yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho anh số tiền 33.000.000 đồng.

Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận

Đống Đa và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hùng M khai nhận toàn bộ

hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan và vật chứng thu được của vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 04/10/2024, tại nhà số F ngõ F Đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội, Nguyễn Hùng M đã có hành vi lén lút trộm cắp 09 bộ điều hòa nhãn hiệu Funiki 9000 BTU trị giá 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng) của anh Nguyễn Tuấn P (Sinh năm: 2001; Trú tại: Xóm X, xã H, huyện S, Hà Nội).

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Hùng M đã cấu thành tội “Trộm cắp

tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

. Về trách nhiệm hình sự và hình phạt: Hành vi của của bị cáo là nguy

hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng bản thân muốn hưởng lợi bất chính nên đi vào con đường phạm tội. Do đó cần phải có một hình phạt nghiêm nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải

và khai nhận về hành vi của mình. Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Từ những phân tích nêu trên có đủ căn cứ áp dụng điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Xét bị cáo là người không có công việc ổn định nên không áp dụng hình

phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về bồi thường dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu

cầu bồi thường nên hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý tự nguyện hoàn trả lại người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan là anh Nguyễn Quang A số tiền 33.000.000 đồng và anh Quang A cũng có yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho anh số tiền trên. Xét yêu cầu của anh Quang A là hoàn toàn chính đáng và sự tự nguyện hoàn trả của bị cáo là phù hợp vì vậy nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động thu

giữ của bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và có quyền

kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo

quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hùng M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản

2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt Nguyễn Hùng M 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ

ngày 07/10/2024.

Miễn phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Hùng M

* Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135, 136, 331, 333, 336,

337 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều

131 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Hùng M phải hoàn trả cho anh Nguyễn Quang A số tiền 33.000.000 (ba mươi ba triệu) đồng.

Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên hội

đồng xét xử không xem xét.

Đối với khoản tiền phải bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ

liên quan nếu chậm thi hành án, sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất không kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước, tương ứng với khoản tiền chậm thi hành án kể từ khi có đơn yêu cầu được bồi thường của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cho tới khi thi hành xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Samsung màu ghi số

Imei 1: 3528*********** (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong). Các vật chứng nói trên đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Đ theo biên bản giao nhận vật chứng số 76 ngày 04/12/2024.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.650.000 đồng

án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ

ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án

về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản

án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ