- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khởi kiện quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng nghị số 91/KNPT –VKS - HC ngày 25/01/2018 của Viên trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương và kháng cáo của bà Bùi Thị N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm ( có điều chỉnh lại án phí hành chính sơ thẩm).
- Căn cứ chính? Điều 106 Luật Đất đai; Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số…; Điều 193 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 466 /2019/HC-PT Ngày 17 tháng 7 năm 2019 V/v “Khởi kiện quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phạm Trí Tuấn
Các Thẩm phán:
Ông Phan Văn Yên
Ông Phan Nhựt Bình
Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Bùi
Văn Thành - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số: 130/2018/TLPT-HC ngày 30 tháng 03 năm 2018 về việc “Khởi kiện quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án hành chính sơ thẩm số 02/2018/HC - ST ngày 15 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 978/2019 /QĐ - PT ngày 02
tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
*Người khởi kiện: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1941
Nơi cư trú: A, Tổ C, ấp H, xã H, thị xã U, tỉnh Bình Dương
Đại diện hợp pháp: Ông Ngô Văn D, sinh năm 1976 ( có mặt)
Nơi cư trú: Số A, phường B, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai
Văn bản uỷ quyền: chứng thực số 82 quyển số 01 – SCT/CK,CĐ ngày 29/8/2017 tại UBND xã Thạnh Hội, Tân Uyên, Bình Dương.
*Người bị kiện: UBND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Trụ sở: Phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Ngô Quang S
Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. ( Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người liên quan: Ông Mai Thanh T, sinh năm 1922
Địa chỉ: Khu A, Y, phường V, thành phố Thủ Dầu 1, Bình Dương ( có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện họp pháp của người khởi kiện ông Ngô Văn D trình bày:
Tháng 9/2016, bà N có nhận được Thông báo số 455/TB-UBND ngày 05/9/2016 của ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sư dụng đất số 00192 QSDĐ/TU do ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên cấp ngày 23/8/1999. Không dồng ỷ nội dung thông báo nêu trên ngày 03/10/2016 bà N dã làm đơn khiếu nại gửi đến ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên. Ngày 30/12/2016, Chu tịch ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên đã ban hành Quyết định số 6467/QĐ-UBND bác đơn khiếu nại của bà N.
Ngày 17/8/2017, Bà N nhận dược Quyết định số 4681/QĐ-UBND ngày 22/6/201 7 cua Uy ban nhân dân thị xã Tân Uyên, với nội dung thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00192 QSDĐ/TU do Uy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên cấp ngày 23/8/1999 với lý do cấp không đúng trình tự, thủ tục, không đúng hiện trạng thực tế và không dúng diện tích đất nội dung quyết định trên dã làm ảnh hưởng và gây thiệt hại đến quyên và lợi ích của bà N nên dã làm đơn khởi kiện Quyết dinh số 4681/QĐ-UBND yêu câu Tòa án xem xét hủy Quyết định số 4681/QD-UBND ngày 22/6/2017 của Ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên.
Vê nguôn gốc đất: Đất do ông bà của bà N sử dụng từ trước năm 1975 để lại có trích lục địa bộ, sau năm 1975 bà N về đây sinh sống, trực tiếp canh tác sản xuất và sử dụng ôn dịnh từ dó cho đen nay. Tại sao Uy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên ban hành quyết định thu hồi giây chứng nhận quyên sử dụng đât của bà N.
Trước khi bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã phải thực hiện trình tự thủ tục theo pháp luật quy định như sau:
Ngày 18/6/1998, được cán bộ có thẩm quyền vào thời điểm đó hướng dẫn lập hồ sơ để đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng dất.
Ngày 23/9/1998 được lập biên bản xét duyệt cùng 263 hộ lân cận.
Ngày 25/9/1998, Ủy ban xã Thạnh Phước thời điểm đỏ thông báo công khai hồ sơ đăng ký.
Ngày 23/02/1999, hồ sơ được xác nhận: “Đủ điều kiện”.
Ngày 20/4/1999, úy ban nhân dân xã lập tờ trình đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N cùng 1.158 hộ gia đình và cá nhân.
Ngày 30/7/1999, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tân Uyên (nay là Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Tân Uyên) có tờ trình đề nghị huyện cấp giấy chửng nhận quyền sử dụng đất cho bà N cùng 1.158 hộ gia đình và cá nhân.
Ngày 23/8/1999, bà N được Ủy ban nhân dân huyện Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sư dụng đất số N 173072 - số vào sổ 00192 QSDĐ/TU công nhận quyên sứ dụng thưa 335 tờ ban đô số 19 diện tích: 6.508 m2 thửa 120, 128, 92, tờ bản đồ số 18 diện tích: 7.071 m2 xã Thạnh Phước.
Đến ngày 20/10/1999, Ủy ban nhân dân xà Thạnh Phước lập biên bản kết thúc công khai hồ sơ đăng ký dât.
Thời gian từ lúc làm đơn đăng ký là ngày 18/6/1998 đến khi hoàn tất được câp sổ là ngày 23/8/1999 hơn một năm trời qua 9 cửa thủ tục, hô sơ đăng ký thì do cán bộ phụ trách hướng dẫn lập cho dân, biêu mẫu thì do cán bộ phụ trách đưa cho dân, diện tích thì do cán bộ phụ trách do, hồ sơ do cơ quan nhà nước lưu trữ, sau 17 năm ra thông báo cho dân là thiếu, là không đúng, phải thu hồi. Vậy thì cơ quan nào, cá nhân nào chịu trách nhiệm.
Không có hô sơ bản đồ địa chính, vậy tại sao biêt có hay không có cái hói (Mương) nước? dựa vào đâu? tại sao bây giờ mới dưa ra đc lấy cớ thu hồi giấy chứng nhận quyền sư dụng đất của bà N.
Qua thanh tra xác minh cái hói nước (nếu có) đã không còn được ai sư dụng từ năm 2000, vậy thì sao lại phải khôi phục dể làm gì? Mương thủy lợi dẫn ra đồng còn bị bỏ hoang, thì tại sao phải khôi phục lại cái hói này. Mà cái hói này hiện nay năm ờ dâu? Diện tích bao nhiêu, cụ thể?
Hô sơ xin giây câp chứng nhận quycn sứ dụng đất cho bà N được trình xét đồng loạt cùng 1.158 hồ sơ vậy có phải 1.158 hồ sơ kia cũng không đúng biểu mẫu và bị thu hồi như của bà N không? Và nêu chỉ riêng hô sơ cua bà N bị thiếu sót, bị sai vậy saỏ khi lập tờ trình chung cùng với 1.158 hồ sơ không thông báo cho dân bô sung, giải trình ngay thời diêm dó.
Vấn đề dặt ra ở đây là tại Quyết định số 6467/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 của Ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên ông Mai Thanh C là ai, dựa vào đâu mà ông khiếu nại đê yêu cầuỦy ban nhân dân thị xã Tân Uyên thu hồi giây chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N? Lý do ông C đưa ra là do bà N rào hàng rào lưới B40 kiên cố trên con dường đất đi xuống hói lấy nước tưới của nhân dân. Bà N khăng dinh trên phần đất hiện nay bà N dang canh tác sư dụng ôn dịnh và dã dược úy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên câp giây chứng nhận quyên sư dụng đất cho bà N không có thê hiện có cái hói nước nào như ông C nói, còn việc bà N có rào hàng rào như thế nào thì bà N cũng rào trên phần đất cua bà N, đế bao vệ tài san cua gia đình. Hơn nữa trong quá trình Uy ban nhân dân thị xã Tân Uyên mời bà N làm việc, chưa một lần và thậm chí khi bà N yêu cầu dược dối thoại với người khiêu nại, Uy ban nhân dân thị xã Tân Uyên cũng không dáp ứng. Có phai ông Mai 'Thanh C - là cán bộ lào thành có mối quan hệ sâu sắc với dịa phương nên dã tác động đến ủy ban nhân dân xã (nhiều lần qua nhiều dời chủ tịch), rất nhiêu lân thường xuyên có giây mời (hoặc trực ticp) mời bà N đến Uy ban xã làm việc.
Thanh tra thị xã Tân Uyên cũng khảo sát lấy ý kiến người nông dân địa phương và kết qua không còn ai xuống sông gánh nước lên dê tưới tiêu sản xuất hoa màunhiều năm nay (từ năm 2000). Vậy là hơn 16 năm rồi nhưng bà N không hiểu tại sao ủy ban nhân dân thị xã rân Uyên phải quyết tâm khôi phục bằngđược cái hói nước cho ông Mai Thanh C? Và thậm chí trôn bản dồ dịa chính cũng không thế hiện cỗ cái hói nước nào nằm trong diện tích dất cua bà N nhưng vẫn ra quyết định thu hồi giấy chửng nhận quyền sử dụng dất với lý do cấp không đúng trình tự? Nhưng trong thông báo cũng thê hiện rõ đây là đợt xét giây câp chứng nhận quyên sử dụng đât đâu tiên và đại trà cho toàn xã, cùng chung trên một tờ trình vậy các hộ khác thì sao? Có bị thu hôi giây chửng nhận quyền sử dụng dất giống như của bà N do không đúng trình tự, thiếu biểu mẫu hay không?
Nhận thấy, Quyết định số 4681/QĐ-UBND ngày 22/6/2017 của ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp cua bà Bùi Thị N.
Bà Bùi Thị N yêu câu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vấn đề sau:
- Hủy toàn bộ Quyết định số 4681/QĐ-UBND ngày 22/6/2017 của ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên.
Tại văn bản về việc phúc đáp, cung câp tài liệu liên quan đến vụ án hành chỉnh do bà Bùi Thị N khởi kiện sổ 3191/UBND-NC ngày 03/11/2017 của người đại diện hợp pháp của người bị kiện là ông Ngô Quang S - Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên trình bày:
Ngày 27/6/2016, Thanh tra thị xã Tân Uyên có Báo cáo số 82/BC-TTr về việc thẩm tra hồ sơ cấp Giấy chửng nhận quyền sử dụng dất số 00192 QSDĐ/TU ngày 23/8/1999 của ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên câp cho bà Bùi Thị N là không dúng quy định pháp luật (cấp không đúng đối tượng sử dụng đất và diện tích đất). '
Ngày 05/9/2016, Uy ban nhân dân thị xã Tân Uyên ban hành Thông báo sô 445/TB-UBND về kết qua thẩm tra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00192 QSDĐ/TU nêu trên.
Ngày 30/12/2016, Chủ tịch ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên ban hành Quyết định 6467/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Bùi Thị N, nội dung bác đơn khiếu nại của bà N đối với thông báo số 455/TB- UBND ngày 05/9/2016 của Ủy ban nhân dân thị xà Tân Uyên.
Ngày 22/6/2017, Ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên ban hành Quyết định 4681/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chửng nhận quyền sư dụng đất số 00192 QSDĐ/TU ngày 23/8/1999 do ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên cấp cho bà Bùi Thị N. Không đồng ý nội dung Quyết định số 4681/QĐ- UBND, bà N khởi kiện đến Tòa án nhân dân tinh Bình Dương.
Việc Ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên ban hành Quyết dịnh số 4681/QĐ- UBND nêu trên phù hợp quy dịnh tại Điều 106 của Luật đất đai và Điêu 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phu về thi hành Luật Đât đai năm 2013. Do dó, Ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xem xét giữ nguyên Quyết đinh: 4681/QD-UBND vê việc thu hồiGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 00192 QSD Đ/TU ngày 23/8/1999 do Uy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên cấp cho bà Bùi Thị N và xử lý vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 02/2018/HC – ST ngày 15 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị N đối với yêu cầu: Hủy toàn bộ quyết định số 4681/QĐ – UBND ngày 22/6/2017 của Ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00192/QSDĐ/TU ngày 23/8/1999 của bà Bùi Thị N.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25/01/2018 bà Bùi Thị N nộp đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm huỷ quyết định số: 4681/QĐ – UBND ngày 22/6/2017 của UBND thị xã Tân Uyên.
Lý do: Tranh chấp đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân, không đưa ông Mai Thanh C tham gia tố tụng.
Ngày 25/01/2018 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Kháng nghị số 91/KNPT – VKS – HC đề nghị huỷ bản án số 02/2018/HC – ST ngày 15/01/2018 của TAND tỉnh Bình Dương.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện ủy quyền của bà N là ông Ngô Văn D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên kháng nghị. Đề nghị Tòa án phúc thẩm hủy án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Trong hạn luật định Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành quyết định kháng nghị, bà Bùi Thị N có đơn kháng cáo nên được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Xét diễn biến vụ án:
Ngày 05/9/2016 Uỷ ban nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương ra Thông báo số 455/TB – UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00192 QSD Đ/TU do UBND huyện ( nay là thị xã) Tân Uyên cấp ngày 23/8/1999. Ngày 03/10/2016 bà N làm đơn khiếu nại đến Uỷ ban nhân dân thị xã Tân Uyên. Ngày 30/12/2016 Chủ tịch UBND thị xã Tân Uyên ban hành quyết định số 6467/QĐ – UBND bác đơn khiếu nại của bà N.
Ngày 22/6/2017 Uỷ ban nhân dân thị xã Tân Uyên ban hành Quyết định số 4681/QĐ – UBND với nội dung thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00192 QSD Đ/TU do UBND huyện ( nay là thị xã Tân Uyên ) cấp ngày 23/8/1999 với lý do cấp không đúng trình tự, thủ tục, hiện trạng thực tế và không đúng diện tích.
Về nguồn gốc đất: Bà N cho rằng đất do ông bà của bà sử dụng từ trước năm 1975 để lại, có trích lục địa bộ. Sau năm 1975 bà về sinh sống, trực tiếp canh tác sản suất và sử dụng ổn định đến nay. Trước khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thực hiện trình tự thủ tục theo quy định pháp luật như sau:
Ngày 18/6/1998 được cán bộ có thẩm quyền vào thời điểm đó hướng dẫn lập hồ sơ để đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 23/9/1998 được lập biên bản xét duyệt cùng 263 hộ dân
Ngày 25/9/1998 UBND xã Thạnh Phước thời điểm đó thông báo công khai hồ sơ công khai hồ sơ đăng ký.
Ngày 23/02/1999 hồ sơ được xác nhận đủ điều kiện.
Ngày 20/4/1999 UBND xã lập tờ trình đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N cùng 1.158 hộ gia đình và cá nhân.
Ngày 30/7/1999 phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện ( nay là thị xã )Tân Uyên lập tờ trình đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N cùng 1.158 hộ gia đình và cá nhân.
Ngày 23/8/1999 bà N được UBND huyện ( nay là thị xã) Tân Uyên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00192 QSD Đ/TU.
Nhận thấy, Quyết định số 4681/QĐ – UBND ngày 22/6/2017 của UBND thị xã Tân Uyênxâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân nên bà Bùi Thị N khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xác định đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án, thời hiệu giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với kháng cáo, kháng nghị cho rằng cấp sơ thẩm không đưa ông Mai Thanh C tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hội đồng xét xử phúc thẩm đã triệu tập ông Mai Thanh C tại phiên tòa phúc thẩm, qua lời khai của ông Mai Thanh C thể hiện xuất phát từ khiếu nại của ông Mai Thanh C về đường nước Ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên đã tiến hành các thủ tục thanh tra về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ban hành Quyết định nêu trên. Ông Mai Thanh C tại phiên tòa phúc thẩm xác nhận, không tranh chấp phần đất trên của bản thân mà là đường nước công cộng để ông thực hiện việc lấy nước. Do đó, cấp sơ thẩm không đưa ông Mai Thanh C tham gia tố tụng là đúng nên không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị về vấn đề này.
Theo người khởi kiện cung cấp về trích lục địa bộ của ông Bùi Trường C ( BL 10)tại thửa 102 a: Nam giáp sông Đồng Nai và Tây giáp sở 96a, 97 b và mương; thửa 102 b: Nam giáp sông Đồng Nai và Đông giáp mương.
Tòa án sơ thẩm cũng đã xác định việc công khai đăng ký của các hộ gia đình và cá nhân ngày 20/10/1999 của Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phước trong đó có trường hợp của bà Bùi Thị N là không đúng quy định. Tuy nhiên, hiện chỉ có trường hợp bà N bị ông Mai Thanh C khiếu nại do đó UBND huyện Tân Uyên ( nay là Thị xã Tân Uyên ) phải tiến hành xem xét lại việc cấp giấy này. Theo báo cáo của Thanh Tra thị xã Tân Uyên số 82/BC –TTr ngày 27/6/2016 cũng đề cập: “ Báo cáo số 495/BC –TNMT ngày 22/5/2015 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Tân Uyên việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N không giáp mương nước, nhưng trên thực tế hình thành từ trước năm 1975. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà N không đúng hiện trạng thực tế”.
Từ đó, Thanh Tra thị xã Tân Uyên kiến nghị Ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên đã căn cứ vào điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013; điểm b Khoản 4 Điều 87 Nghị định 43/2014/ND – CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thi hành luật đất đai để Thông báo cho bà Bùi Thị N biết UBND thị xã Tân Uyên sẽ ban hành quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Bùi Thị N giấy số 00192 ngày 23/8/1999, thửa số 335, tờ bản đồ số 19 tại xã Thạnh Phước ( nay là xã Thạnh Hội). Lý do cấp không đúng trình tự và không đúng thực tế là có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị N là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà N kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ mới nên bác yêu cầu kháng cáo của bà Bùi Thị N cũng như kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
Do bà N đã trên 60 tuổi nên miễn án phí hành chính cho bà N.
Vì các lẽ trên;
Áp dụng Khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 30, 32, điểm a Khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; điểm a Khoản 2 Điều 66, điểm d Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Luật đất đai năm 2013; điểm a Khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ –CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Không chấp nhận kháng nghị số 91/KNPT –VKS - HC ngày 25/01/2018 của Viên trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương và kháng cáo của bà Bùi Thị N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm ( có điều chỉnh lại án phí hành chính sơ thẩm).
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị N đối với yêu cầu: Hủy toàn bộ quyết định số 4681/QĐ – UBND ngày 22/6/2017 của Ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00192/QSDĐ/TU ngày 23/8/1999 của bà Bùi Thị N.
Án phí:
Bà Bùi Thị N không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm, hoàn trả tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà N đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010908 ngày 26 tháng 11 năm 2018 và biên lai thu số 0010805 ngày 16 tháng 10 năm 2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương (do ông Ngô Văn D nộp).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Yên
Phan Nhựt Bình
Phạm Trí Tuấn
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao. - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Bình Dương (1) - VKSND tỉnh Bình Dương (1) - Cục THA dân sự tỉnh Bình Dương (1) - NKK; NBK - NLQ - Luật sư (1); - Lưu (3) (Án 07) | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trí Tuấn |