- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Cẩm N và Nguyễn Đức T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Thị Cẩm N và anh Nguyễn Đức T, Giấy chứng nhận kết hôn số 119, quyển 01/2011, ngày 02/8/2011 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và giađình; Điều 56 Luật Hôn nhân và giađình; Điều 81 Luật Hôn nhân và giađình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: ……../2023/ HNGĐ -ST Ngày: 27 – 9 – 2023 V/v Ly hôn giữa chị N và anh T |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thái Quân
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam là Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ ánthụ lý số: 216/2023/TLST- HNGĐ, ngày 14 tháng 6 năm 2023 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 292/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Trần Thị Cẩm N, sinh năm 1989, (có đơn xin vắng mặt).
Nơi cư trú: tổ E, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
Số diện thoại: 0325. 353. 228
2. Bị đơn: anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1986, (vắng mặt).
Nơi cư trú: tổ E, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
Nơi ở hiện tại: nhà trọ Chị L; địa chỉ: Lô A, tổ F, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi làm việc: Nhà hàng N1; địa chỉ: Số F, đường Â, phường P, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Số điện thoại:
097. 497. 62. 90.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện ngày 12 tháng 6 năm 2023 và trong qua trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Trần Thị Cẩm N trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: sau thời gian tìm hiểu về tình cảm, năm 2005 chị và anh Nguyễn Đức T chung sống với nhau, năm 2011 đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 119/2011, quyển số 01/2011 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Anh chị chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh T thường xuyên đi làm về khuya, rất nhiều lần say rượu và hay ghen tuông chị với người khác sống cùng nơi ở nhà trọ, chị đòi ly hôn thì anh T dùng dao đe dọa cắt ngón tay, ngón chân của chị, việc làm của anh T lúc nữa đêm không ai biết. Nhiều lần anh T đuổi chị ra khỏi nhà trọ, nên không còn chung sống với anh T từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, chị yêu cầu ly hôn với anh T.
+ Về nuôi con chung: anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Đức T1, sinh ngày 14/5/2006, chị đang nuôi dưỡng. Tại văn bản ngày 10/7/2023 cháu T1 có nguyện vọng sống với mẹ. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
+ Về chia tài sản à nợ chung: chị N khai không có.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023 chị Trần Thị Cẩm N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đức T (là bị đơn) đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu của nguyên đơn, không đến Tòa án làm việc và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên không ghi nhận được ý kiến của anh T.
- Tại Biên bản xác minh ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Toà án được chị Huỳnh Ngọc G (chị dâu của anh T) cho biết, cha, mẹ ruột anh T đều đã chết, khi vợ chồng anh T kết hôn thì cùng nhau sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh cho đền N2, nên cuộc sống của vợ chồng anh T thì chị không biết rõ, khi nhận được thông báo của Tòa án về yêu cầu ly hôn của chị N, chị có điện thoại cho anh T biết thì anh T nói chị N muốn làm gì thì làm anh T không quan tâm, hiện anh T đang làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh khi đến lễ hoặc tết thì mới về quê.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng quy định, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Cẩm N đối với anh Nguyễn Đức T theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; về nuôi con chung, giao con chung tên Nguyễn Đức T1, sinh ngày 14/5/2006 cho chị N nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập; chia tài sản và nợ chung không có; về án phí, chị N phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: chị Trần Thị Cẩm N khởi kiện yêu cầu ly hôn với với anh Nguyễn Đức T, Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Đức T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố Tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị N và anh T.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Hôn nhân của chị N và anh T là hợp pháp, vì anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Xét tình trạng hôn nhân của anh chị thấy rằng, theo chị N khai vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, nhiều lần anh T đi làm về khuya, say rượu, ghen tuông vô cớ và đuổi chị đi, khi chị yêu cầu ly hôn thì anh đe dọa, thời gian ly thân anh chị không hàn gắn. Ttừ lúc chị N khởi kiện ky hôn đến nay anh T cũng không hàn gắn tình cảm vợ chồng. Cho thấy hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N và theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sátcho ly hôn giữa chị N và anh T.
Về nuôi con chung: chị N yêu cầu tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Đức T1, sinh ngày 14/5/2006, chị đang nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Từ lúc ly thân đến nay chị N nuôi con ổn định và cháu T1 cũng có nguyện vọng sống với mẹ. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu T1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, nhưng chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con là sự tự nguyện của chị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Căn cứ khoản 3 Điều 82, Điều 83, 84, 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở; vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay việc cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: không có.
Về nợ chung: ghi nhận chị N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị N và anh T trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm, chị N phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, 83, 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và giađình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dânsự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Thị Cẩm N và anh Nguyễn Đức T, Giấy chứng nhận kết hôn số 119, quyển 01/2011, ngày 02/8/2011 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
2. Về nuôi con chung: giao con chung tên Nguyễn Đức T1, sinh ngày 14/5/2006 cho chị Trần Thị Cẩm N tiếp tục nuôi, chị N đang nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu anh Nguyễn Đức T cấp dưỡng nuôi con, nên anh T không phải cấp dưỡng.
Anh Nguyễn Đức T không trực tiếp nuôi con, anh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay việc cấp dưỡng cho con.
3. Về chia tài sản: không có.
Về nợ chung: ghi nhận chị Trần Thị Cẩm N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị N và anh T trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: chị Trần Thị Cẩm N phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006257 ngày 13/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh An Giang.
5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - UBND xã P, huyện P tỉnh An Giang; - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Kim Phương |