- Tranh chấp gì? án dân sự — "hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Xác định hợp đồng mua bán xe viết tay ngày 20/8/2017 mua bán xe ô tô nhãn hiệu Toyota - Camry biển số 60A – 219.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT-BCA Quy định về đăng ký xe; Điều 117 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 465/2022/DS-ST Ngày: 26/9/2022 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nhã. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kính. 2. Ông Đoàn Văn Rỹ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2022/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 340/2022/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 256/2022/QĐST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn : Bà Nguyễn Thị Mỹ H
Địa chỉ: 159 Đường G, khu phố B, phường Q, thành phố B, tỉnh N.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Phúc H; Địa chỉ: 343 Đường B, phường B, thành phố B, tỉnh N là người đại diện theo uỷ quyền – Văn bản uỷ quyền ngày 01/7/2020.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng H
Địa chỉ: 6/16B Đường H, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H có đại diện là ông Nguyễn Phúc H trình bày:
Ngày 20/8/2017, bà Nguyễn Thị Mỹ H có bán cho bà Nguyễn Thị Hồng H một chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota - Camry biển số 60A – 219.66 có giấy đăng ký xe số 027556 do Công an Đồng Nai cấp ngày 17/5/2015. Đôi bên có làm hợp đồng mua bán xe ô tô viết tay thể hiện nội dung giá mua bán xe là 1.000.000.000 đồng, phương thức thanh toán cụ thể như sau:
- Ngay sau khi ký hợp đồng, bà Hồng H sẽ thanh toán cho bà Mỹ H 500.000.000 đồng.
- Số tiền 500.000.000 đồng còn lại sẽ được bà Hồng H thanh toán cho bà Mỹ H trong vòng 24 tháng kể từ ngày ký hợp đồng, trong thời hạn chưa thanh toán đủ bà Hồng H sẽ phải trả lãi suất 7%/tháng đối với số tiền chưa thanh toán đủ.
- Sau khi bà Mỹ H hoàn tất mọi thủ tục sang tên trước bạ cho bà Hồng H, bà Hồng H sẽ đưa thêm 10.000.000 đồng cho bà Mỹ H.
Bà Mỹ H đã nhận 500.000.000 đồng của bà Hồng H và giao chiếc xe ô tô cho bà Hồng H. Sau đó bà Hồng H đã trả lãi 4 tháng từ 20/8/2017 đến 20/12/2017 thì ngưng không trả và không liên lạc với bà Mỹ H cho đến nay. Đến ngày 20/8/2019 là sau 24 tháng như thoả thuận, bà Hồng H phải trả thêm 500.000.000 đồng và cùng với bà Mỹ H ra phòng công chứng ký hợp đồng mua bán để làm thủ tục sang tên trước bạ nhưng bà Hồng H không xuất hiện và bà Mỹ H cũng không liên lạc được với bà Hồng H.
Nay tại Toà bà Mỹ H yêu cầu Toà án huỷ hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 20/8/2017, bà Hồng H hoàn trả lại cho bà Mỹ H chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota - Camry biển số 60A – 219.66 có giấy đăng ký xe số 027556 do Công an Đồng Nai cấp ngày 17/5/2015.
Do bà Hồng H có lỗi trong việc không trả số tiền còn lại sau 24 tháng và không cùng với bà Mỹ H hoàn tất thủ tục mua bán xe tại phòng công chứng nên bà Mỹ H yêu cầu bà Hồng H trả tiền lãi chậm trả theo qui định pháp luật trên số tiền chậm trả là 500.000.000 đồng tính từ ngày 20/8/2017.
Sau khi bà Hồng H thi hành xong yêu cầu, bà Mỹ H sẽ hoàn trả cho bà Hồng H số tiền đã nhận.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng H: Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án và đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bà Hồng H đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng bà Hồng H không đến, do đó không có lời khai của đương sự tại tòa.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự. Về phần nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố hợp đồng mua bán xe là vô hiệu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quá trình tố tụng
Xét đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ H thì đây là vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản; do bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, nên theo qui định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét nguyên đơn có đề nghị không tiến hành hòa giải nên căn cứ vào Điều 207, Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được, Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải
Xét bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về các yêu cầu của đương sự
Xét bà Nguyễn Thị Mỹ H với bà Nguyễn Thị Hồng H có ký kết hợp đồng mua bán xe ô tô viết tay ngày 20/8/2017, với các điều khoản theo như phía nguyên đơn đã trình bày. Tòa án đã thông báo việc thụ lý vụ án đến bị đơn và đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Tòa làm việc nhưng đương sự không có ý kiến phản hồi nên căn cứ vào khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Theo quy định điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an về đăng ký xe qui định:
“Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực.”
Như vậy đối với các hợp đồng mua bán xe của cá nhân thì bắt buộc phải được công chứng hoặc chứng thực.
Xét hợp đồng mua bán xe viết tay ngày 20/8/2017 giữa bà Mỹ H và bà Hồng H không được công chứng hoặc chứng thực theo qui định pháp luật . Do đó giao dịch mua bán xe ô tô nhãn hiệu Toyota - Camry biển số 60A – 219.66 có giấy đăng ký xe số 027556 do Công an Đồng Nai cấp ngày 17/5/2015 được ký kết theo hợp đồng mua bán xe viết tay ngày 20/8/2017 vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 117, Điều 122, Điều 129 và Điều 407 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Giao dịch ký kết hợp đồng mua bán xe giữa bà Mỹ H và bà Hồng H ngày 20/8/2017 vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập; Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Vì vậy, bà Nguyễn Thị Mỹ H có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Hồng H số tiền đã nhận là 500.000.000 đồng cùng với 4 tháng tiền lãi đã nhận là:
500.000.000 đồng x 7% x 4 tháng = 140.000.000 đồng.
Tổng số tiền bà Mỹ H phải trả bà Hồng H là 640.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Hồng H có nghĩa vụ hoàn trả chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota - Camry biển số 60A – 219.66 có giấy đăng ký xe số 027556 do Công an Đồng Nai cấp ngày 17/5/2015 cho bà Nguyễn Thị Mỹ H.
Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Hồng H có lỗi nên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của nguyên đơn là tiền lãi chậm trả trên số tiền bà Hồng H đã chậm trả từ ngày 21/8/2019 là ngày thoả thuận trả hết số tiền 500.000.000 đồng còn thiếu đến ngày Tòa án xét xử căn cứ qui định tại Điều 407 Bộ luật dân sự năm 2015, với lãi suất sẽ được tính là 10%/năm căn cứ theo Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Cụ thể như sau, từ ngày 21/8/2019 đến ngày 26/9/2022 là 3 năm 1 tháng 5 ngày, số tiền là:
500.000.000 đồng x 10% x 3 năm 1 tháng 5 ngày = 154.861.110 đồng.
Như vậy số tiền bà Mỹ H phải trả bà Hồng H là:
640.000.000 đồng – 154.861.110 đồng = 485.133.890 đồng
Bà Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu án phí sơ thẩm trên tổng số tiền phải trả lại cho bà Hồng H là 485.133.890 đồng; Bà Nguyễn Thị Hồng H phải chịu án phí trên giá trị chiếc xe ô tô phải trả lại bà Mỹ H là 1.000.000.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 117, Điều 122, Điều 129, Điều 357, Điều 407 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an về đăng ký xe
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xác định hợp đồng mua bán xe viết tay ngày 20/8/2017 mua bán xe ô tô nhãn hiệu Toyota - Camry biển số 60A – 219.66 có giấy đăng ký xe số 027556 do Công an Đồng Nai cấp ngày 17/5/2015 ký kết giữa bà Nguyễn Thị Mỹ H và bà Nguyễn Thị Hồng H vô hiệu.
2. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng H có nghĩa vụ hoàn trả chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota - Camry biển số 60A – 219.66 có giấy đăng ký xe số 027556 do Công an Đồng Nai cấp ngày 17/5/2015 cho bà Nguyễn Thị Mỹ H. Hoàn trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
3. Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Hồng H số tiền 485.133.890 đồng. Hoàn trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Hồng H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng).
Bà Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 23.405.355 đồng (Hai mươi ba triệu bốn trăm lẻ năm ngàn ba trăm năm mươi lăm đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0046510 ngày 31/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9. Bà Mỹ H còn phải nộp thêm số tiền 8.405.355 đồng (Tám triệu bốn trăm lẻ năm ngàn ba trăm năm mươi lăm đồng).
5. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Nhã |