- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc B - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H Bản án số: 465/2019/HS-PT |
Ngày: 22/10/2019
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ H CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành"phần"H"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:"
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Huỳnh Anh K"
Các"Thẩm"phán:
1. Ông Huỳnh Văn T
2. Bà Nguyễn Hoàng A
-"Thư"ký"phiên"tòa: Ông Nguyễn B Q –Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố
H.
-"Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"H"tham"gia"phiên"tòa: Ông
Nguyễn Thanh T - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H, xét
xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 394/2019/TLPT-HS ngày 18/09/2019 đối
với bị cáo Nguyễn Ngọc B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự số
130/2019/HSST ngày 05/8/2019 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố H.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Ngọc B (tên gọi khác: B Gù), sinh năm 1984, tại Thành phố H;
Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 69/4 Tổ 49, Khu phố 7,
phường H, Quận X, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:
Không; Trình độ văn hóa: Lớp 12; Nghề nghiệp: Chăn nuôi; Con ông Nguyễn Chí
T (chết) và bà Trần Thị T; Hoàn cảnh gia đình: có Vợ, có 02 con, lớn sinh năm
2010, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ
ngày 30/8/2018 đến ngày 22/01/2019 thay đổi bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư
trú (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong H1 sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 0 giờ ngày 20/8/2018, sau khi dự tiệc sinh nhật thì Nguyễn Ngọc B
rủ Nguyễn Biển Đ, Lê Xuân H, Trần Ngọc H1 và Xỉn (chưa xác định) vào quán bar
Enjoy địa chỉ số 437 Lê Văn KH2, Khu phố 5, phường Hiệp Thành, Quận X để
chơi tiếp. Khoảng 30 phút sau thì H đi về trước. Trong quán bar thì H1 và Đ có
mâu thuẫn với 01 người khách (không rõ lai lịch) và dùng tay đánh vào mặt người
khách nên bị B vệ quán bar (không xác định) đánh lại, H1 cầm dao bấm đuổi theo đâm vào người đánh H1 nhưng không xác định đâm trúng ai và được B vệ can ngăn.
Khoảng 02 giờ cùng ngày, nhóm của Đ tính tiền ra về thì B gặp và chửi anh
Lê Văn Lực là B vệ quán bar, 02 bên xảy ra mâu thuẫn nên nhóm B vệ khoảng 06-07 người can ngăn và đe dọa đánh B. Sau đó Đ điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở B về nhà. Trên đường về H1 gọi điện thoại rủ Đ quay lại đánh nhóm B vệ thì Đ đồng ý. Lúc này B nghe được nên nên vào nhà lấy 01 cây rựa tự chế (mã tấu) dài khoảng 80cm rồi Đ chở B đến cầu Dừa phường Hiệp Thành, Quận X gặp nhóm H1, Xỉn và 07-08 thanh niên (chưa xác định), đồng thời Đ gọi điện thoại rủ Phạm Văn H2 đi đánh nhau. Trường (không rõ lai lịch) chở H2 đến gặp Đ rồi Trường đi về. Tại đây H1 đưa cho mỗi người 01 con dao tự chế và tất cả đeo khẩu trang để đi đánh nhau. Khi đến trước quán bar Enjoy, H1 cầm dao tự chế nhảy xuống xe chém vào người anh Nguyễn Văn Toản 01 cái, B vệ quán bar cầm bình xịt chữa cháy xịt ra và ném ly uống bia ra ngoài trúng vào mặt Đ nên Đ chạy ra đường Lê Văn KH2 thì nhặt được 01 con dao tự chế quay lại chém nhân viên B vệ nhưng không trúng ai thì bị nhân viên B vệ (không xác định) dùng cây kim loại đánh trúng vào bàn tay phải của Đ nên Đ cầm dao bỏ chạy và đưa dao tự chế cho 01 thanh niên (không xác định) đi cùng nhóm với H1. Còn B xuống xe mô tô dùng cây rựa đuổi theo chém 01 thanh niên đang ngồi trước quán Enjoy nhưng bị trượt chân té nên không chém được. Riêng H2 khi đến quán bar cầm cây rựa xông vào đập trúng xe mô tô hiệu SH (chưa xác định biển số và người bị hại) rồi cả nhóm bỏ chạy tẩu thoát.Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, B đang ngủ tại nhà thì bị Công an mời về trụ sở làm việc.
Theo bản kết luận giám định pháp y về tH2 tích số 699/TgT.18 ngày
28/8/2018 của Trung tâm pháp y Thành phố H kết luận tH2 tích của anh Đỗ Ngọc Trung như sau: Tỉ lệ tổn tH2 cơ thể do tH2 tích gây nên hiện tại là 44%.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số130/2019/HSST ngày 05/8/2019 của Tòa án
nhân dân Quận X, Thành phố H đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn H2, Nguyễn Ngọc B và Nguyễn Biển Đ
phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”;
Áp dụng Điểm a, b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B 02 (hai) năm tù, được trừ 04 (bốn) tháng
23 (hai mươi ba) ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2018 đến ngày 22/01/2019 còn lại bị cáo phải chấp hành 01 (một) năm 07 (bảy) tháng 07 (bảy) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Đối với hành vi gây tH2 tích cho người khác, Cơ quan điều tra Quận X đã
quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền
kháng cáo theo luật định.
Ngày14/8/2019, bị cáo Nguyễn Ngọc B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H
trình bày:
Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã H, dùng
dao tấn công người khác, gây náo loạn khu phố, mất trật tự an ninh tại địa pH2.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo
Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không trình bày được tình tiết nào mới
để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do đó đề nghị H đồng xét xử không
chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị H đồng xét xử xem xét cho bị cáo được
hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong H1 sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, H đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hình thức: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/8/2019, bị cáo Nguyễn
Ngọc B làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đồng thời tại phiên tòa phúc
thẩm bị cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo đề nghị cho bị cáo hưởng án treo để có
điều kiện chăm sóc gia đình. Xét đơn kháng cáo và yêu cầu thay đổi kháng cáo
của bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận để xem xét theo
thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong H1
sơ vụ án, căn cứ kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm cũng như
phiên tòa phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 02 giờ sáng ngày 20/8/2018, bị cáo và một số đối tượng khác đã
dùng dao, mã tấu và gậy đến quán Enjoy trên đường Lê Văn KH2, Quận X, Thành
phố H để tham gia đánh nhau với nhóm nhân viên của quán ngay trước của quán
sát gần đường Lê Văn KH2. Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên
bản hỏi cung bị cáo, biên bản ghi lời khai người làm chứng thể hiện bị cáo
Nguyễn Ngọc B có cầm dao đuổi chém một người thanh niên nhưng do trượt chân
bị ngã nên không chém được, bị nhân viên của quán đập vào tay nên bị cáo bỏ
chạy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã H, gây náo loạn khu phố, mất trật tự
an ninh tại địa pH2, gây hỗn loạn nơi công cộng. Với hành vi đó, Tòa án cấp sơ
thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B về tội “Gây rối trật tự Công cộng” theo Điểm
a, b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật.
[2]Xét yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, H đồng xét xử
xét thấy:
Trong vụ án này, do mâu thuẫn với nhóm nhân viên của quán bar Enjoy nên
các bị cáo và một số đối tượng không rõ lai lịch đã dùng dao tham gia đánh nhau trước của quán sát gần đường Lê Văn KH2. Qúa trình điều tra xác định bị cáo có tham gia đánh nhau, có cầm hung khí nhưng bị cáo không chém trúng ai và còn bị nhân viên của quán bar rượt đuổi đánh, hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an, gây hỗn loạn nơi công cộng, do đó cần phải xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, H đồng xét xử xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải, phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình đang nuôi con nhỏ. Sau khi xảy ra vụ án nạn nhân Đỗ Ngọc Trung đã làm đơn bãi nạn và không yêu cầu bồi thường, bị cáo hiện đang có việc làm ổn định, đang ổn định cuộc sống, có nơi cư trú rõ ràng nên khi lượng hình cần vận dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 như vậy cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã H.
Do đó, H đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo,
sửa bản án sơ thẩm.
Đối với hành vi cố ý gây tH2 tích trong vụ án do Cơ quan điều tra Công an
Quận X và Viện kiểm sát nhân dân Quận X, Tòa án cấp sơ thẩm kết luận do chưa xác định được các đối tượng nào gây tH2 tích cho nạn nhân nên tách vụ án để điều tra xử lý riêng là có căn cứ, cần chấp nhận.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình
sự năm 2015:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc B, sửa Bản án sơ thẩm số
130/2019/HSST ngày 05/8/2019 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố H.
Căn cứ Điểm a, b Khoản 2 Điều 318; các Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều
51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo
về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 04 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân Phường Hiệp Thành, Quận X, Thành phố
H giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú sẽ được thực hiện theo Điều 69
luật Thi hành án hình sự 2010.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên
thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án
đã cho hưởng án treo.
Bị cáo không phải đóng án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm về các vấn đề không có kháng
cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo)
Nơi"nhận:
TM. H ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND TC;
(1)
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;(1)
- VKSND TP.HCM;
(3)
- VKSND QX;
(1)
- P.PC 53 - CATP;
(1)
- Bị cáo;
(1)
- Chi cục THA QX;
(1)
(Đã ký và đóng dấu)
- TAND Q1;
(2)
- Công an QX;
(1)
- Sở Tư pháp;
(1)
Huỳnh Anh Kiệt
- UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
- Lưu: VT, THS, H1 sơ; (18) (4)