vanban.org

Bản án 464 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Võ Thị Bé P1 và anh Lê Tính N, Giấy chứng nhận kết hôn số 71, quyển số 01, ngày 06/10/2008 của Ủy ban nhân dân xã K1, huyện A, tỉnh An Giangkhông còn giá trị pháp lý.

Về nuôi con chung: giao 02 con chung tên Lê Thị Kim N2, sinh ngày 05/01/2007; Lê Thị Kim Y ngày 14/12/2014 cho chị Võ Thị Bé P1 tiếp nuôi, cả hai con do chị P đang nuôi dưỡng. Chị P không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, nên anh N không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Lê Tính N không trực tiếp nuôi co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Bé P và Lê Tính N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Võ Thị Bé P1 và anh Lê Tính N, Giấy chứng nhận kết hôn số 71, quyển số 01, ngày 06/10/2008 của Ủy ban nhân dân xã K1, huyện A, tỉnh An Giangkhông còn giá trị pháp lý.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dânsự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P,
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: ……./2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27 – 9 – 2023
“Về việc Ly hôn giữa
chị P1 và anh N”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thái Quân

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Nam là Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2023/TLST- HNGĐ, ngày 06 tháng 6 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 291/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Võ Thị Bé P1 năm 1985, (có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: tổ A, ấp S, xã K, huyện A, tỉnh An Giang

2. Bị đơn: anh Lê Tính N năm 1985, (vắng mặt).

Nơi cư trú: tổ F, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 15 tháng 5 năm 2023 và và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Võ Thị Bé P1 trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: sau thời gian tìm hiểu nhau về tìm cảm, năm 2008 chị và anh Lê Tính N đồng ý tiến tới hôn nhân, ngày 06/10/2008 anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K1, huyện A, tỉnh An Giang, Giấy chứng nhận kết hôn số 71, quyển số 01, ngày 06/10/2008. Vợ chồng sống hạnh phúc, đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân. Chị nhận thấy thời gian dài không chung sống nên tình cảm vợ chồng không còn, chị P yêu cầu ly hôn với anh N

+ Về nuôi con chung: anh chị có 02 người con chung tên Lê Thị Kim N2, sinh ngày 05/01/2007; Lê Thị Kim Y ngày 14/12/2014, cả hai con do chị P đang nuôi dưỡng. Tại văn bản ngày 18/8/2023 cả hai cháu Lê Thị K N1Lê Thị Kim Yđều có nguyện vọng sống với mẹ. Chị P1 cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con..

+ Về chia tài sản và nợ chung: chị P khai không có.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023 chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Anh Lê Tính N (là bị đơn) đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu của nguyên đơn, không đến Tòa án làm việc và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên không ghi nhận được ý kiến của anh N.

- Tại Biên bản xác minh ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Toà án, được ông Lê văn Đ(cha ruột anh N) cho biết, anh N chung nhà và cùng nơi cư trú với ông, anh N chị P1 tìm hiểu, tổ chức lễ cưới và chung sống tại quê chị P(huyện A 01 đến 02 năm anh chị mới về thăm ông một lần. Ông không nhớ thời gian nào, ông nghe anh N vợ chồng làm việc tại thành phố T, Thành phố H lần chị P1 đi vô cớ và nhiều lần anh N liên lạc không được. Khi vợ chồng mâu thuẫn anh N về thăm con nhưng cha mẹ chị P1 cho gặp mặt con và dùng lời lẽ mắng chửi anh N chồng ly thân từ năm 2014 đến nay, anh N ý định ly hôn nhưng chị P1 đồng ý, nay chị P1 cầu ly hôn anh N đề nghị Tòa án cho ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng quy định, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Bé P1 đối với anh Lê Tính N theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; về nuôi con chung, giao 02 con chung tên Lê Thị Kim N2, sinh ngày 05/01/2007; Lê Thị Kim Y ngày 14/12/2014 cho chị P1 nuôi dưỡng, chị P1 không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập; chia tài sản và nợ chung không có; về án phí hôn nhân, chị P1 phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: chị Võ Thị Bé P1 khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Tính N, Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị P và anh N.

Về nội dung giải quyết vụ án:

Hôn nhân của chị P và anh N lhợp pháp, vì anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Xét tình trạng hôn nhân của anh chị thấy rằng vợ chồng mâu thuẫn theo chị P khai do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, thời gian ly thân anh chị không hàn gắn. Từ lúc chị P khởi kiện ly hôn đến nay anh N cũng không hàn gắn về tình cảm vợ chồng, cha của anh N nhận thấy anh chị không thể trở lại sống chung và đề nghị Tòa án cho ly hôn. Cho thấy hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị P và theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho ly hôn giữa chị P và anh N.

[2.2] Về nuôi con chung: chị P yêu cầu tiếp tục nuôi hai con chung là cháu Lê Thị Kim N2, Lê Thị Kim Y1 lúc ly thân đến nay chị P1 con ổn định và cả hai cháu đều có nguyện vọng sống với mẹ. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu N1và cháu Y cho chị Ptiếp tục nuôi dưỡng. Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, nhưng chị P1 không yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con là tự nguyện của chị, Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Căn cứ khoản 3 Điều 82, Điều 83, 84, 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 anh N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay việc cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: không có.

Nợ chung: ghi nhận chị P xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị P và anh N trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm, chị P phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, 83, 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dânsự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Võ Thị Bé P1 và anh Lê Tính N, Giấy chứng nhận kết hôn số 71, quyển số 01, ngày 06/10/2008 của Ủy ban nhân dân xã K1, huyện A, tỉnh An Giangkhông còn giá trị pháp lý.

2. Về nuôi con chung: giao 02 con chung tên Lê Thị Kim N2, sinh ngày 05/01/2007; Lê Thị Kim Y ngày 14/12/2014 cho chị Võ Thị Bé P1 tiếp nuôi, cả hai con do chị P đang nuôi dưỡng. Chị P không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, nên anh N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lê Tính N không trực tiếp nuôi con, anh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay việc cấp dưỡng cho con.

3. Về chia tài sản: không có.

Nợ chung: ghi nhận chị Võ Thị Bé P1 định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị P và anh N trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: chị Võ Thị Bé P1 chịu án phí 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006220 ngày 05/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh An Giang.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ