- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "trần tra m"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Trà M về việc ly hôn với anh Trương Ngọc C.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 464/2022/HNGĐ-ST Ngày 30-11-2022 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Việt Thắng
2. Ông Văn Công Trọn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Ngân - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 687/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 477/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Trà M, sinh năm 1999 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Trương Ngọc C, sinh năm 1992 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 27/10/2022 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Trà M trình bày: Về hôn nhân: Chị và anh Trương Ngọc C sống chung với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (theo giấy chứng nhận kết hôn số 10 ngày 02/02/2018), hôn nhân tự nguyện. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống vợ chồng lúc đầu sống hạnh phúc, thời gian về sau phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, vợ chồng thường hay cải nhau, anh C có lời lẽ xúc phạm chị, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, chị và anh C đã sống ly thân hơn 07 tháng nay. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh C.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị M và anh C có 01 người con chung tên Trương Bảo N, sinh ngày 20/02/2018 (giới tính: Nữ). Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 28/11/2022 anh C trình bày: Anh thống nhất như trình bày của chị M cụ thể: Về hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị Trần Trà M, anh xác định không thể hàn gắn ở lại với nhau được; Về con chung: Có 01 người con tên Trương Bảo N, sinh ngày 20/02/2018 (giới tính: Nữ) đúng như chị M trình bày. Anh đồng ý giao cháu N cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng; Về tài sản chung và nợ: Anh thống nhất như trình bày của chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do anh hiện đang làm Công ty ở tỉnh Đồng Nai việc đi lại khó khăn nên yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh theo quy định
Tại phiên tòa chị M xác định không thể nào sống chung được với anh C nên chị M cương quyết ly hôn anh C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trương Ngọc C có nơi cư trú tại ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chị Trần Trà M khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Trương Ngọc C tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Chị M là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự chị M là nguyên đơn, anh C là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chị M có mặt, anh C xin vắng mặt; Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Trà M và anh Trương Ngọc C xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2018, hôn nhân tự nguyện. Có đăng ký kết hôn theo luật định. Quá trình chung sống vợ chồng giữa chị M và anh C phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống không hòa hợp, không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh C đã sống ly thân hơn 07 tháng nay. Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, cho chị M được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị M và anh C có 01 người con tên Trương Bảo N, sinh ngày 20/02/2018. Hiện đang sống chung với chị M. Khi ly hôn chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi con.
Xét, con chung tên Trương Bảo N, sinh ngày 20/02/2018, hiện nay chị M đang trực tiếp nuôi dưỡng, gần gũi với chị M, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao các cháu Trương Bảo N cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Anh C không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
Về cấp dưỡng: Chị M không đặt ra nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung và nợ: Chị M và anh C xác định tự thỏa thuận không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị M phải chịu tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Trà M về việc ly hôn với anh Trương Ngọc C.
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trương Bảo N, sinh ngày 20/02/2018 cho chị Trần Trà M được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trương Ngọc C không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
2. Về án phí: Chị Trần Trà M phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; ngày 02/11/2022 chị M đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005645 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.
3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời; - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời; - Cơ quan đã đăng ký việc kết hôn; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |