- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Ngọc Phúc - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Dương Ngọc P 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2021.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 464/2021/HS-ST Ngày: 16/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 508/2021/TLST-HS, ngày 29 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 487/2021/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 10 năm 2021, đối với:
Bị cáo: Dương Ngọc P, sinh năm 1977, tại Bình Đinh. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Ấp 1C, xã PT, huyện LT, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Dương Ngọc K, sinh năm 1947 (đã chết) và bà Châu Thị S, sinh năm 1952. Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Y, sinh năm 1978 và có 01 con sinh năm 2015.
Tiền án: Ngày 25/10/1999, tại Bản án số 373/HSST, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên phạt bị cáo 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người chưa đạt” và 05 (năm) năm tù về tội “Cướp tài sản công dân”, quyết định hình phạt chung các tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt là 17 (mười bảy) năm tù; buộc bị cáo phải liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Văn Thảo số tiền 2.000.000 đồng, trong đó phần bồi thường của bị cáo P là 1.000.000 đồng; tuyên bị cáo phải chịu 50.000 đồng án phí HSST, 50.000 đồng án phí DSST. Bị cáo kháng cáo xin được giảm án. Ngày 31/5/2000, tại Bản án số 919/HSPT, Tòa phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, bác đơn kháng cáo của bị cáo, y án sơ thẩm, buộc bị cáo phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo P chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/11/2013, chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm, chưa bồi thường thiệt hại.
Tiền sự: Không.
Bị bắt, giam giữ từ ngày 07/6/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt.
Bị hại: Anh Võ Văn T, sinh năm 1984, vắng mặt.
Địa chỉ thường trú: Xóm Đ, xã BA, huyện GCĐ, tỉnh TG.
Hiện trú tại: A4/92, khu phố B, phường TV, thành phố H, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 15 phút, ngày 19 tháng 8 năm 2020, Dương Ngọc P điều khiển xe môtô hiệu WAVE RS, biển số 47R5-1253 đi ngang qua tiệm bán đồ điện, địa chỉ số 19-21 đường Cách Mạng Tháng Tám, thuộc khu phố 1, phường Thanh Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện 01 chiếc túi (giỏ) đan bằng sợi nhựa bên trong có đựng đồ nghề sửa điện lạnh gồm: 01 máy khoan búa hiệu Bosch, 02 cây thước thủy, 01 cây búa cán gỗ, 01 cây búa bằng kim loại, 03 cây mỏ lết bằng kim loại, 10m dây điện hiệu Cadivi, 01 thước cuộn hiệu Kapusi, 04 cây kìm, 03 mũi khoan kim loại, 02 đầu đục bê tông bằng kim loại, 02 cây tuốc nơ vít, 02 đầu bắn vít, 01 đầu khò, 01 bình gas mini, 01 bộ lục giác gồm 09 cây, 01 bộ cắt ống máy lạnh, 70 con tán nối ống đồng, 03 cờ lê bằng kim loại của anh Võ Văn Thơ đang để trên xe môtô dựng bên ngoài phía trước cửa tiệm, không có người trông coi nên P nảy sinh ý định trộm cắp. Thực hiện ý định trên, P lén lút tiếp cận lấy giỏ đồ trên bỏ lên xe môtô của P định tẩu thoát thì bị người dân xung quanh phát hiện tri hô đuổi bắt. Lúc này, P lấy trong người ra 01 con dao (loại dao Thái Lan, cán vàng, dài khoảng 20cm) nhằm hù dọa để tẩu thoát nhưng đã bị người dân khống chế, bắt giao cho Công an phường Thanh Bình lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa khởi tố, điều tra, xử lý.
Vật chứng trong vụ án, gồm:
- 01 chiếc túi (giỏ) đan bằng sợi nhựa, 01 máy khoan búa hiệu Bosch, 02 cây thước thủy, 01 cây búa cán gỗ, 01 cây búa bằng kim loại, 03 cây mỏ lết bằng kim loại, 10m dây điện hiệu cadivi, 01 thước cuộn hiệu Kapusi, 04 cây kìm, 03 mũi khoan kim loại, 02 đầu đục bê tông bằng kim loại, 02 cây tuốc nơ vít, 02 đầu bắn vít, 01 đầu khò, 01 bình gas mini, 01 bộ lục giác gồm 09 cây, 01 bộ cắt ống máy lạnh, 70 con tán nối ống đồng và 03 cờ lê bằng kim loại, thu giữa được từ P, là tài sản của anh Võ Văn Thơ nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Võ Văn Thơ;
- 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu WAVE RS, biển số 47R5-1253 là phương tiện P đã sử dụng phạm tội;
- 01 con dao (loại dao Thái Lan, cán vàng, dài khoảng 20cm, đã bị gãy), bị can P đã sử dụng làm hung khí để tẩu thoát.
Tại Kết luận định giá tài sản số 407/KL-HĐĐGTS, ngày 20/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa kết luận: “01 (một) cái giỏ đan bằng sợi nhựa, 01 (một) máy khoan búa, 02 (hai) cây thước thủy, 01 (một) cây búa cán gỗ, 01 (một) cây búa bằng kim loại, 03 (ba) cây mỏ lết bằng kim loại, 10 (mười) mét dây điện, 01 (một) thước cuộn, 04 (bốn) cây kìm, 03 (ba) mũi khoan kim loại, 02 (hai) đầu đục bê tông bằng kim loại, 02 (hai) cây tuốc nơ vít, 02 (hai) đầu bắn vít, 01 (một) đầu khò, 01 (một) bình gas mini, 01 (một) bộ lục giác gồm 09 cây, 01 (một) bộ cắt ống máy lạnh, 70 (bảy mươi) con tán nối ống đồng và 03 (ba) cái cờ lê bằng kim loại, tổng giá trị là 2.306.595 đồng (hai triệu, ba trăm lẻ sáu nghìn, năm trăm chín mươi lăm đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bồi thường.
Tại cáo trạng số 522/CT-VKSBH, ngày 28/9/2021, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Dương Ngọc P về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 10 tháng đến 12 tháng tù. Về án phí: bị cáo phải chịu.
Bị cáo không gửi bài bào chữa cho mình và cũng không yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu khác ngoài những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ của vụ án ra xem xét tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa:
Bị cáo Dương Ngọc P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không tham gia phiên tòa được vì ảnh hưởng của dịch Covid-19. Đây là sự tự nguyện của bị cáo và không trái với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị cáo.
Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:
Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 09 giờ 15 phút, ngày 19 tháng 8 năm 2020, tại khu vực phía trước cửa tiệm bán đồ điện, địa chỉ số 19-21, đường Cách Mạng Tháng Tám thuộc khu phố 1, phường Thanh Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Dương Ngọc P đã có hành vi trộm cắp của anh Võ Văn Thơ 01 chiếc túi (giỏ) đan bằng sợi nhựa bên trong có đựng các tài sản gồm: 01 máy khoan búa hiệu Bosch, 02 cây thước thủy, 01 cây búa cán gỗ, 01 cây búa bằng kim loại, 03 cây mỏ lết bằng kim loại, 10m dây điện hiệu cadivi, 01 thước cuộn hiệu Kapusi, 04 cây kìm, 03 mũi khoan kim loại, 02 đầu đục bê tông bằng kim loại, 02 cây tuốc nơ vít, 02 đầu bắn vít, 01 đầu khò và 01 bình gas mini, 01 bộ lục giác gồm 09 cây, 01 bộ cắt ống máy lạnh, 70 con tán nối ống đồng và 03 cờ lê bằng kim loại, tổng giá trị là 2.306.595 đồng (hai triệu, ba trăm lẻ sáu nghìn, năm trăm chín mươi lăm đồng) thì bị phát hiện, khởi tố, điều tra xử lý.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do vậy, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản phạm tội đã thu hồi trả lại cho người bị hại, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 25/10/1999, tại Bản án số 373/HSST, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên phạt bị cáo 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người chưa đạt”; 05 (năm) năm tù về tội “Cướp tài sản công dân”, quyết định hình phạt chung các tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt là 17 (mười bảy) năm tù; buộc bị cáo phải liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Văn Thảo số tiền 2.000.000 đồng, trong đó phần bồi thường của bị cáo là 1.000.000 đồng; tuyên bị cáo phải chịu 50.000 đồng án phí HSST, 50.000 đồng án phí DSST. Bị cáo kháng cáo xin được giảm án. Ngày 31/5/2000, tại Bản án số 919/HSPT, Tòa P thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử P thẩm, bác đơn kháng cáo của bị cáo, y án sơ thẩm, buộc bị cáo phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự P thẩm. Bị cáo P chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/11/2013, chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự P thẩm, chưa bồi thường thiệt hại. Hành vi phạm tội của bị cáo lần này phạm vào tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.
Về xử lý vật chứng trong vụ án:
- 01 chiếc túi (giỏ) đan bằng sợi nhựa, 01 máy khoan búa hiệu Bosch, 02 cây thước thủy, 01 cây búa cán gỗ, 01 cây búa bằng kim loại, 03 cây mỏ lết bằng kim loại, 10m dây điện hiệu cadivi, 01 thước cuộn hiệu Kapusi, 04 cây kìm, 03 mũi khoan kim loại, 02 đầu đục bê tông bằng kim loại, 02 cây tuốc nơ vít, 02 đầu bắn vít, 01 đầu khò, 01 bình gas mini, 01 bộ lục giác gồm 09 cây, 01 bộ cắt ống máy lạnh, 70 con tán nối ống đồng và 03 cờ lê bằng kim loại, thu giữa được từ P, là tài sản của anh Võ Văn Thơ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Thơ là phù hợp quy định của pháp luật.
-Đối với chiếc xe môtô hiệu WAVE RS, biển số 47R5-1253 là phương tiện bị can P đã sử dụng đi trộm cắp tài sản, bị can P khai mua lại của một người không rõ lai lịch, có giấy đăng ký xe nhưng đã bị thất lạc. Kết quả xác minh thể hiện chiếc xe này do ông Hoàng Văn Thịnh, sinh năm 1952, ngụ tại thôn Kim Phát, xã Hòa Hiệp, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã ủy thác điều tra cho Công an huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk nhưng chưa có kết quả, nên Cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
- 01 con dao (loại dao Thái Lan, cán vàng, dài khoảng 20cm, đã bị gãy), bị can P đã sử dụng làm hung khí để tẩu thoát, là công cụ bị can sử dụng trong quá trình phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Đối với hành vi Dương Ngọc P sử dụng 01 con dao (loại dao Thái Lan, cán vàng, dài khoảng 20cm) quơ qua quơ lại khi bị người dân phát hiện nhằm đe đọa để tẩu thoát, tuy nhiên chưa đến mức xác định là tình tiết “hành hung để tẩu thoát”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa không áp dụng để truy tố theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Dương Ngọc P 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao (loại dao Thái Lan, cán vàng, dài khoảng 20cm, đã bị gãy), bị can P đã sử dụng làm hung khí để tẩu thoát, là công cụ bị can sử dụng trong quá trình phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
(Theo Biên bản giao vật chứng số, tài sản ngày 16/11/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Dương Ngọc P phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nôi nhaän:
| - Bị cáo; - Bị hại; - Người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND TP Biên Hòa; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an TP Biên Hòa; - Chi cục THA DS TP Biên Hòa; - Löu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Viết Dược |