vanban.org

Bản án 463/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị H. Bà Võ Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đức H1.

Veà con chung: Giao con chung là Nguyễn Võ Hà M, sinh ngày 07/02/2015 cho bà Võ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Nguyễn Đức H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Vì không trực tiếp nuôi con nên ông Nguyễn Đức H1 được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở, vì lợi ích của con, k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Hằng xin ly hôn ông Nguyễn Đức Hiền"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị H. Bà Võ Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đức H1.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 463/2023/HNGĐ–ST
Ngày: 27/12/2023.
V/v:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Ngọc

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

Ông Trần Văn Chánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Cán bộ Tòa án nhân dân

thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Bà Trần Thị

Thuỷ – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 2120/2021/TLST–HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 425/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 520/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12/12/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1992

HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tỉnh

Địa chỉ nơi ở hiện tại: 102/21/8, tổ A, khu phố E, phường L thành phố B, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức H1, sinh năm 1987.

HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tỉnh

Địa chỉ tạm trú: 102/21/8, tổ A, khu phố E, phường L thành phố B, tỉnh Đồng Nai

Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Đội 15, P, Trại giam T- Cục C - Bộ C1, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

(Bà H có mặt, ông H1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo đơn khởi kiện ngày 09/10/2023, các lời khai tại hồ sơ Bà Võ Thị H trình bày:

Tôi với ông Nguyễn Đức H1 tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và đã được UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tỉnh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 23/04/2013. Sau khi kết hôn cuộc sống không hạnh, nguyên nhân là do vợ chồng về lối sống, quan điểm sống không phù hợp, ông Nguyễn Đức H1 không tu chí làm ăn, hay chưởi và đánh tôi. Vì con tôi đã cố gắng hòa giải nhưng không thành. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi xin Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn Đức H1.

- Về con chung: Có 01 con là Nguyễn Võ Hà M, sinh ngày 07/02/2015. Ly hôn tôi xin được trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục con chung và tạm thời tôi không yêu cầu ông Nguyễn Đức H1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về Nợ chung: Tôi cam kết vợ chồng tôi không có nợ chung.

- Về án phí: Tôi xin tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của cháu Nguyễn Võ Hà M, sinh ngày 07/02/2015: Nếu ba mẹ cháu ly hôn cháu xin được ở với mẹ Võ Thị H vì con thương mẹ nhiều hơn ba.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho với ông Nguyễn Đức H1 nhưng với ông Nguyễn Đức H1 không gửi cho Tòa án ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà Võ Thị H và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ. Tòa án đã nhiều lần tống đạt phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải , thông báo kết quả phiên họp cho ông Nguyễn Đức H1 để ông H1 có ý kiến gửi cho Tòa án nhưng ông Nguyễn Đức H1 không gửi.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng, bảo đảm sự vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ án. Về nội dung tranh chấp: Theo bà H trình bày từ khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm về lối sống, ông H1 không lo làm ăn, hay chửi, đánh bà H. Phía ông H1 đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, thông báo hòa giải, tuy nhiên ông H2 không hợp tác, không có ý kiến phản hồi nên không có căn cứ xem xét. Đồng thời phía ông H1 đang chấp hành án tại trại giam X - Sông R, C; Còn bà H lại có đơn đề nghị không hòa giải nên không có điều kiện đoàn tụ hòa giải cho cả hai. Như vậy, thực tế vợ chồng không chung sống cùng nhau, không có điều kiện để gần gũi, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do đó, chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Võ Thị H với ông Nguyễn Đức H1. Về con chung: Có 01 con chung tên: Nguyễn Võ Hà M, sinh ngày 07/02/2015. Ly hôn, bà H xin được trực tiếp nuôi con chung tạm thời không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Phía ông H1 không có ý kiến; đồng thời cháu Nguyễn Võ Hà M cũng có lời khai muốn ở với chị H; Do đó giao cháu Nguyễn Võ Hà M cho bà Võ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; tạm thời ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung bà Võ Thị H nêu tự thoả thuận và ông Nguyễn Đức H1 không có ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Bà Võ Thị H và ông Nguyễn Đức H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Ông Nguyễn Đức H1 nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố B nên đơn xin ly hôn của bà Võ Thị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét bà Võ Thị H là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Đức H1 là bị đơn đã triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt (do đang chấp hành án phạt tù). Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

* Về Nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai, lời trình bày của bà Võ Thị H và ông Nguyễn Đức H1 thì cuộc sống hôn nhân của bà Võ Thị H và ông Nguyễn Đức H1 là không có hạnh phúc, không có sự yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy yêu cầu của của bà Võ Thị H về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Đức H1 là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà Võ Thị H khai có 01 con chung là Nguyễn Võ Hà M, sinh ngày 07/02/2015. Ly hôn bà Võ Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung và tạm thời không yêu cầu ông Nguyễn Đức H1 phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Đức H1 không có ý kiến và do hiện nay ông Nguyễn Đức H1 hiện đang chấp hành hình phạt tù nên không thể trực tiếp nuôi dạy con, đồng thời cháu Nguyễn Võ Hà M cũng có ý kiến xin ở với mẹ là bà Võ Thị H nên yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà Võ Thị H có căn cứ để chấp nhận. Do bà Võ Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Đức H1 cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời ông Nguyễn Đức H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[3] Về tài sản chung: Bà Võ Thị H khai tự thỏa thuận, ông Nguyễn Đức H1 không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: Bà Võ Thị H khai không có, ông Nguyễn Đức H1 không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Võ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 267, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị H. Bà Võ Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đức H1.

- Veà con chung: Giao con chung là Nguyễn Võ Hà M, sinh ngày 07/02/2015 cho bà Võ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Nguyễn Đức H1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Vì không trực tiếp nuôi con nên ông Nguyễn Đức H1 được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở, vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Võ Thị H khai tự thỏa thuận, ông Nguyễn Đức H1 không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

- Về nợ chung: Bà Võ Thị H khai không có, ông Nguyễn Đức H1 không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Võ Thị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008816 ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ