vanban.org

Bản án 463/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Ngọc T đối với bà Lê Thị Ngọc D.

Quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 19 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/4/2017 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Ông Nguyễn Ngọc T xác định ông T và b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Ngọc T đối với bà Lê Thị Ngọc D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 463/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16/6/2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nguyên.

2. Ông Lại Hữu Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1066/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 156/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1982

Nơi cư trú: Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1987

Nơi cư trú: xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 21/6/2022, bản tự khai ngày 06/12/2022 và ngày 04/7/2022, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 04/4/2023 và biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 04/4/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T trình bày:

Ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D có đăng ký kết hôn vào ngày 14/4/2017 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi đăng ký kết hôn mà chưa tổ chức đám cưới thì xảy ra mâu thuẫn và không chung sống với nhau. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do hai bên chưa tìm hiểu kỹ nên không hiểu nhau và không đi đến đám cưới. Nay ông Nguyễn Ngọc T yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị Ngọc D.

Về con chung: Ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông T xác nhận không nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Bà Lê Thị Ngọc D vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay mà không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến như sau: Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc T đối với bà Lê Thị Ngọc D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông Nguyễn Ngọc T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị Ngọc D. Căn cứ vào Phiếu trả lời xác minh ngày 12/7/2022 do Công an Phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thì bà Lê Thị Ngọc D có thực tế cư trú và đăng ký tạm trú tại địa chỉ: xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự:

+ Bà Lê Thị Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị Ngọc D.

+ Ông Nguyễn Ngọc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Ngọc T.

[3] Về các yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/4/2017 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Ngọc T trình bày: Ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D có đăng ký kết hôn vào ngày 14/4/2017 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi đăng ký kết hôn mà chưa tổ chức đám cưới thì xảy ra mâu thuẫn và không chung sống với nhau. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do hai bên chưa tìm hiểu kỹ nên không hiểu nhau và không đi đến đám cưới. Nay ông Nguyễn Ngọc T yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị Ngọc D. Mục đích hôn nhân giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D đã không còn, ông T yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị Ngọc D.

Căn cứ vào Phiếu trả lời xác minh ngày 10/4/2023 của Ủy ban nhân dân xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc trả lời xác minh tình trạng hôn nhân và gia đình của ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D được biết: “Qua xác minh Ủy ban nhân dân xã B phối hợp Ấp 1 thông tin lại như sau: Bà Lê Thị Ngọc D không quen biết với ông Nguyễn Ngọc T. Ngoài ra, địa phương không nắm thông tin gì khác.”

Bà Lê Thị Ngọc D dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản thể hiện yêu cầu của nguyên đơn gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập đương sự nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết vụ án, cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Mặt khác, bà Lê Thị Ngọc D cũng không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông Nguyễn Ngọc T. Như vậy, bà Lê Thị Ngọc D đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên bà Lê Thị Ngọc D phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Do đó, Hội đồng xét xử xét nhận thấy việc ông Nguyễn Ngọc T yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị Ngọc D là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Từ các nhận định trên và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Ngọc T đối với bà Lê Thị Ngọc D.

Về con chung:

Căn cứ lời khai của ông Nguyễn Ngọc T: Ông T và bà Lê Thị Ngọc D không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Ngọc T xác định ông T và bà Lê Thị Ngọc D không có tài sản chung, không nợ ai.

Bà Lê Thị Ngọc D vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại Tòa hôm nay, không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[4] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án ông Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51, 56, 57, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Ngọc T đối với bà Lê Thị Ngọc D.

Quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 19 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/4/2017 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Ông Nguyễn Ngọc T xác định ông T và bà Lê Thị Ngọc D không có con chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề con chung giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D.

3. Về tài sản chung: Ông Nguyễn Ngọc T xác định ông T và bà Lê Thị Ngọc D không có tài sản chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

4. Về nợ chung: Ông Nguyễn Ngọc T xác định ông T và bà Lê Thị Ngọc D không nợ ai. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề nợ chung giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Ngọc T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0020178 ngày 22/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Ngọc T đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Ngọc D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ