- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị K xin ly hôn với bị đơn: Võ Phương Q"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị K và anh Võ Phương Q.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:462/2018/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 11 - 2018 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Mẫn Xuyên;
2. Ông Phan Công Điện.
-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 377/2018/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2018/QĐXXST-HN, ngày 22 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên toà số 66/2018/QĐST-HN, ngày 08 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Huỳnh Thị K, sinh năm 1989.
Địa chỉ: ấp 1, xã H, huyện H, tỉnh Hậu Giang.
2.Bị đơn: Võ Phƣơng Q, sinh năm 1973.
Địa chỉ: ấp 3, xã H, huyện H, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Huỳnh Thị K (sau đây gọi chị K) trình bày: giữa chị và bị đơn Võ Phương Q (sau đây gọi anh Q) qua tìm hiểu nhau mà tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2007, có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, mỗi người mỗi ý kiến khác nhau nên vợ chồng luôn cãi vã nhau và sống ly thân từ đầu năm 2009 đến nay. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
-Về hôn nhân: xin ly hôn với anh Q.
-Về con chung: có một người con chung tên Võ Thị Phương N (nữ), sinh ngày 29 tháng 9 năm 2007. Từ khi ly thân đến nay cháu N sống với chị, nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục muôi cháu N mà chưa yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.
-Về nợ và tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Võ Phương Q vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại bản tự khai ngày 15.10.2018 cháu Võ Thị Phương N trình bày (có sự chứng kiến của chị K): khi cha mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng sống với mẹ.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về con chung, đề nghị tiếp tục giao cho nguyên đơn nuôi dưỡng, bị đơn chưa phải cấp dưỡng; tài sản không yêu cầu, không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn được qui định tại khoản 1, Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Về thủ tục tố tụng: anh Q được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt khong lý do; căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với anh Q.
Xét về quan hệ hôn nhân: chị K và anh Q qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hậu Giang vào ngày 26 tháng 6 năm 2008, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị K, Hội đồng xét xử xét thấy: trong thời gian chung sống giữa chị và anh Q có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nhưng không có biện pháp khắc phục và đã sống ly thân từ năm 2009 đến nay. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tạo điều kiện để anh, chị được đoàn tụ nhưng anh Q không đến để hòa giải đoàn tụ, xét thấy thời gian ly thân đã lâu thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm, lo lắng cho ai. Đồng thời, tại phiên tòa hôm nay, chị Kxác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Q và cương quyết xin ly hôn; từ đó thấy rằng hôn nhân giữa anh, chị đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K.
Về con chung: có một người con chung, xét từ khi ly thân đến nay thì cháu N trực tiếp sống với chị Kvà do chị K nuôi dưỡng, chị K\ có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, yêu cầu này phù hợp với nguyện vọng của cháu N, đồng thời, nhằm tránh gây xáo trộn đến đời sống của cháu, cần tiếp tục giao cháu N cho chị K nuôi dưỡng là hợp lý và nuôi dưỡng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi hoặc khi anh Q, chị K có yêu cầu khác.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: chị K chưa yêu cầu anh Q cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét. Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Q mà không ai có quyền cản trở. .
Về tài sản và nợ chung: chị K trình bày là không có và không yêu cầu, nên không xem xét.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: chị K phải nộp theo quy định pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 147; khoản 2, Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị K và anh Võ Phương Q.
2. Về nuôi con chung: chị Huỳnh Thị K được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Thị Phương N (nữ), sinh ngày 29 tháng 9 năm 2007 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi hoặc khi anh Q, chị K có yêu cầu khác.
Anh Võ Phương Q chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Q mà không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu, không xem xét
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Huỳnh Thị K phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0016770, ngày 10.9.2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không ai phải nộp thêm.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HG; - VKSND huyện PH; - THA huyện PH; -UBND xã Thạnh Hoà, h. Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Liêm |