- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc T như sau:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 461/2020/HNGĐ-ST Ngày: 14-4-2020 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Nhung
Bà Nguyễn Thành Thông
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Thắng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 136/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 765/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2640/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1977.
Địa chỉ: S106H/10A đường Q, Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông S, sinh năm 1964.
Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan).
Địa chỉ: Đài Loan.
(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và Bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông S đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số đăng ký 16, quyển số 01, ngày 02/01/1999 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Ngày 14/02/1999, bà theo ông S qua Đài Loan sinh sống. Trong quá trình chung sống, bà và ông S thường xuyên mâu thuẫn với nhau, bất đồng ý kiến trong cuộc sống. Đến ngày 03/3/1999, bà trở về Việt Nam sinh sống cho đến nay. Từ khi trở về Việt Nam cho đến nay, bà đã nhiều lần liên lạc với ông S để giải quyết việc ly hôn nhưng không được. Do đó, để sớm ổn định cuộc sống riêng của bà sau này, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S.
Về con chung: Bà và ông S không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông S không có tài sản chung, không có nợ chung. Đối với bị đơn ông S hiện đang cư trú tại Đài Loan, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu cung cấp lời khai của ông S về việc bà Nguyễn Thị Ngọc T yêu cầu ly hôn với ông S, nhưng ông S không cung cấp cho Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T có Đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt thông báo về ngày mở phiên tòa đối với ông S nhưng ông S vắng mặt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông S từ lâu đã không còn chung sống, cho thấy quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông S hiện nay không tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc T. Về con chung, về tài sản chung và về nợ chung bà Nguyễn Thị Ngọc T khai không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 22/11/2018, bà Nguyễn Thị Ngọc T đang cư trú tại Việt Nam có đơn xin ly hôn với ông S hiện đang cư trú tại Đài Loan. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 3 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc T có đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm theo Đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 10/01/2020 của bà Nguyễn Thị Ngọc T. Ngày 11/6/2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 335/UTTPDS-TA30 về việc tương trợ tư pháp gửi Bộ Tư pháp để ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mở phiên tòa vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với ông S đang cư trú tại Đài Loan. Đến ngày 05/11/2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có nhận được Công văn số 3375/BTP-PLQT ngày 28/10/2019 của Bộ Tư pháp về việc kết quả ủy thác tư pháp. Theo nội dung công văn này, Cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 19/9/2019 bằng phương thức chuyển cho người sống chung cùng ông S.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông S có quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào năm 1999,theo quy định. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Căn cứ vào các chứng cứ mà Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thu thập được từ Bản tự khai của bà Nguyễn Thị Ngọc T, có cơ sở để xác định rằng mục đích của hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông S đã không đạt được. Về phía ông S, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài hợp lệ để tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mở phiên tòa vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm cho ông S, kết quả thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên thể hiện ông S đã được tống đạt nhưng ông S không có văn bản trả lời hay đơn đề nghị xét xử vắng mặt, điều này chứng tỏ ông S không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Do đó, việc bà Nguyễn Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét giải quyết cho bà Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn đối với ông S là có căn cứ để chấp nhận.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T khai không có.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T khai không có.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc T là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 273 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016;
Căn cứ Điều 40, Điều 52 , Điều 54 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc T như sau:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với ông S. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông S chấm dứt, Giấy chứng nhận kết hôn số đăng ký 16, quyển số 01, ngày 02/01/1999 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T khai không có. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T khai không có. 4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà Nguyễn Thị Ngọc T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0015073 ngày 21/3/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Ngọc T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. 5. Về quyền kháng cáo bản án: Bà Nguyễn Thị Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nên quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T là 15 ngày, kể từ ngày bà Nguyễn Thị Ngọc T được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Ông S không có mặt tại phiên tòa, nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - UBND TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Mỹ Hạnh |