- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phí Mạnh T - Tội trộm cắp tài sản - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phí Mạnh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 460/2026/HSST Ngày 17 tháng 6 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – HÀ NỘI
* Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Anh Sơn
2. Bà Nguyễn Thị Tạo
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Tuyết Nhi- Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội tham gia phiên Tòa: Ông Lê Việt Đức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2026, tại phòng xét xử trực tuyến điểm cầu Trung tâm Toà án nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội và điểm cầu Thành phần tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 410/2026/HSST ngày 18 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Phí Mạnh T, sinh năm 1978; HKTT và nơi ở: TDP A P, phường P, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Phí Văn M; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N; H và tên vợ: Nguyễn Thị N1 (đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số: 342 do Công an thành phố H lập ngày 02 tháng 02 năm 2026.
* Nhân thân:
- Bản án số 10/HSST ngày 27/01/2003 của Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ra trại ngày 01/9/2004 (đã được xoá án tích).
- Bản án số 401/2013/HSST ngày 29/7/2013 của Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ra trại ngày 01/7/2015 (đã được xoá án tích).
- Bản án số 214/2016/HSST ngày 25/10/2016 của Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ra trại ngày 12/7/2018 (đã được xoá án tích).
- Bản án số 46/2021/HS-ST ngày 20/4/2021 của Toà án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ra trại ngày 18/01/2023 (đã được xoá án tích).
Bị can đầu thú, tạm giữ từ ngày 02/02/2026. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
*Người bị hại: Anh Phạm Minh Q, sinh năm 2005 HKTT: Thôn 9 Đồng Lư Trung Thượng, xã Bắc Lý, tỉnh Ninh Bình Nơi ở: Số 519 ngõ 68 đường Phú Diễn, phường Phú Diễn, thành phố Hà Nội
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị L, sinh năm 1978
HKTT và nơi ở: Thôn I Đ, xã B, tỉnh Ninh Bình
(Anh Q và bà L có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 02/9/2025, Phí Mạnh T đi bộ ra khu vực đường H để xem bắn pháo hoa, sau đó đi ăn uống. Đến khoảng 0 giờ ngày 03/9/2025, T đi đến trước số nhà E ngõ F đường P, phường P, thành phố Hà Nội thì thấy cổng mở và ở sân có nhiều xe máy nên nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi quan sát thấy không có người trông giữ, T đã đi vào sân và lấy trộm 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Cubjapan BKS 47AB - 439.20 (của anh Phạm Minh Q - Sinh năm 2005; Trú tại: Xã B, tỉnh Ninh Bình) ở gần cổng và dắt bộ chiếc xe về cất giấu tại nhà. Mấy ngày sau, T rút dây điện ở đầu xe và đạp nổ để sử dụng làm phương tiện đi lại; đến khoảng đầu tháng 10/2025, T bán chiếc xe được 700.000 đồng cho 01 nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch) trên đường T, phường C, thành phố Hà Nội. Số tiền này, T đã chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 02/02/2026, do nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên Phí Mạnh T đã đến Công an phường P để đầu thú.
*Thu giữ của anh Phạm Minh Q: 01 USB Kingston 32GB ghi lại hình ảnh T trộm cắp tài sản tại số E ngõ F đường P, phường P, thành phố Hà Nội ngày 03/9/2025.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 61 ngày 08/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự phường P, kết luận: 01 xe máy CUBJAPAN - HYOSUNG, màu xám; BKS 48AB - 439.20; số khung: P0CCBAUMJD000822; số máy: VZS139FMB12500822; sản xuất năm 2018 (đã qua sử dụng; thời điểm định giá 01/2026), trị giá 3.500.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Phí Mạnh T khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.
- Người bị hại: Anh Phạm Minh Q trình bày nguồn gốc chiếc xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN - HYOSUNG, màu xám, biển kiểm soát 48AB - 439.20 là của mẹ anh (bà Vũ Thị L) mua và đứng tên trong đăng ký xe. Quá trình điều tra xác định xe máy nêu trên do bà Vũ Thị L (Sinh năm 1978; Trú tại: Xã B, tỉnh Ninh Bình) - là mẹ của anh Phạm Minh Q đứng tên đăng ký. Bà L cho biết chiếc xe nêu trên do bà trực tiếp mua đăng ký chính chủ tại tỉnh Đăk Lăk vào năm 2018. Đến năm 2023, bà L giao chiếc xe nêu trên cho anh Phạm Minh Q để làm phương tiện đi lại, bà L đề nghị Cơ quan điều tra tìm lại chiếc xe nêu trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành ra thông báo truy tìm đối với chiếc xe máy nêu trên và tiến hành đăng báo tìm kiếm nhưng hiện không thu giữ được vật chứng.
Về dân sự: Bà L yêu cầu T bồi thường số tiền theo bản kết luận định giá chiếc xe trên.
- Đối với người mua chiếc xe máy nêu trên: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải, xác định địa điểm Phí Mạnh T bán chiếc xe máy nêu trên tại số A đường T, phường C, thành phố Hà Nội. Tiến hành rà soát không phát hiện được người mua xe, bản thân Phí Mạnh T cũng không biết về nhân thân, lai lịch của người mua xe nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Bản cáo trạng số 193/CT-VKSKV4 ngày 14 tháng 5 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội quyết định truy tố bị cáo Phí Mạnh T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên toà:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo trình bày: Trước khi bị cáo ra đầu thú, bị cáo cũng đã đề nghị cơ quan công an cho gặp người bị hại để bị cáo bồi thường, nhưng người bị hại đi vắng, không gặp được. Bị cáo xác nhận trách nhiệm bồi thường số tiền mà người bị hại yêu cầu là 3.500.000 đồng.
- Người bị hại có đơn xin vắng mặt tại phiên Tòa và vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại cơ quan điều tra.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên Toà và có yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe theo bản kết luận định giá tài sản là 3.500.000 đồng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội phát biểu quan điểm: Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 48, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2025, đề nghị tuyên phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
*Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền 3.500.000 đồng.
- Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo;
- Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm;
- Bị cáo; người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không có tranh luận gì. Trong nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho bị cáo được sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên và bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra thu thập được, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 0 giờ ngày 03/9/2025 tại số nhà E ngõ F đường P, phường P, thành phố Hà Nội, Phí Mạnh T có hành vi trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN – HYOSUNG, màu xám, BKS 48AB-439.20, trị giá 3.500.000 đồng của anh Phạm Minh Q. Hành vi của bị cáo Phí Mạnh T đã đủ cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Trong vụ án này bị cáo lợi dụng sơ hở của bị hại, để lén lút trộm cắp tài sản của họ, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được nhà nước bảo vệ, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến an toàn xã hội.
. Xét nhân thân của bị cáo: Từ năm 2003 đến năm 2021, bị cáo đã có 04 tiền án về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Các tiền án của bị cáo tuy đã được xoá, thể hiện bị cáo đã được pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng không sửa đổi bản thân, tiếp tục phạm tội. Với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và mang tính răn đe, phòng ngừa chung.
. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên Tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo đã đến Cơ quan công an đầu thú nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
. Theo quy định thì ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về phần bồi thường dân sự:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) là trị giá tài sản bị cáo đã chiếm đoạt. Hội đồng xét xử xét thấy: Chiếc xe máy nhãn hiệu CUBJAPAN - HYOSUNG, màu xám, biển kiểm soát 48AB - 439.20 là tài sản hợp pháp của bà Vũ Thị L, do vậy việc bà L yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 3.500.000 đồng là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật, nên có căn cứ để chấp nhận
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
. Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Phí Mạnh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 48; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Xử phạt: Phí Mạnh T 10(Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/02/2026.
3. Về phần bồi thường dân sự:
- Buộc bị cáo Phí Mạnh T phải bồi thường cho bà Vũ Thị L số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
4. Về án phí: Bị cáo Phí Mạnh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án. NƠI NHẬN:
| - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND Khu vực 4 – Hà Nội; - Công an Thành phố Hà Nội; - Phòng THADS Khu vực 4 – Hà Nội; - Bị cáo; Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Trang |