vanban.org

Bản án 460/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 31/12/2024 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 …

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Quốc H ly hôn với chị Vũ Thị L. Về con chung: Giao cho anh Vũ Quốc H chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Quốc B, sinh ngày 06/07/2017 và Vũ Thị Q, sinh ngày 02/01/2020. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Vũ Quốc H không yêu cầu chị Vũ Thị L phải cấp dưỡng cho con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Quốc H và Vũ Thị L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 …
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 460/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/12/2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Hạnh.

Bà Dương Thị Kim Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 577/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 566/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 365/2024/QĐST-DS ngày 16/12/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Vũ Quốc H, sinh năm 1994;

Địa chỉ: Thôn K, xã Q (nay là xã D), huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Chị Vũ Thị L, sinh năm 1998; Vắng mặt.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn K, xã Q (nay là xã D), huyện T, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Nhật Bản.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn anh Vũ Quốc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Vũ Thị L được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q (nay là xã D), huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 20/01/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc với nhau khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng anh chị hay xảy ra bất đồng với nhau về lối sống, tính cách, công việc và cách nuôi dạy con cái. Đến năm 2022 anh và chị L đều đi lao động tại nước ngoài, vợ chồng không còn chung sống với nhau, mỗi người ở một nơi nên không có sự quan tâm, chia sẻ được với nhau về cuộc sống, tình cảm. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vũ Thị L.

Về con chung: Vợ chồng anh có hai con chung là Vũ Quốc B, sinh ngày 06/07/2017 và Vũ Thị Q, sinh ngày 02/01/2020. Khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai của ông Vũ Quang N (bố đẻ chị Vũ Thị L) thể hiện: Hiện nay chị L đang lao động tại Nhật Bản, chị L vẫn liên lạc hỏi thăm gia đình. Các văn bản tố tụng của Tòa án gia đình đã thông báo cho chị L biết, chị L không gửi quan điểm thể hiện bằng văn bản nhưng trao đổi qua điện thoại, chị L có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung, chị L đồng ý để anh H nuôi cả hai con chung. Về tài sản chung không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh tại địa phương thể hiện: Anh H và chị L kết hôn hợp pháp và có đăng ký tại địa phương. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn giữa anh H và chị L do hoàn cảnh gia đình cả anh H và chị L đều phải đi lao động xa, mỗi người ở một nơi dẫn đến không chia sẻ được với nhau về công việc, tình cảm. Nay anh H có đơn ly hôn chị L, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Con chung của anh H và chị L là Vũ Quốc B có nguyện vọng được ở với anh H.

Tại phiên tòa: Anh H vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị L vắng mặt lần thứ hai.

Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật.Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt và giấu địa chỉ. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho anh Vũ Quốc H ly hôn chị Vũ Thị L; Về con chung: Giao cho anh Vũ Quốc H chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Quốc B, sinh ngày 06/07/2017 và Vũ Thị Q, sinh ngày 02/01/2020. Anh H tự nguyện không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết; Về án phí: Anh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Vũ Quốc H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa anh chị Vũ Thị L. Chị L đang lao động tại Nhật Bản. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Tại phiên tòa anh H đề nghị xét xử vắng mặt, chị L vắng mặt lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Quốc H và chị Vũ Thị L được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q (nay là xã D), huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 20/01/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc với nhau khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng anh chị hay xảy ra bất đồng với nhau về lối sống, tính cách, công việc và cách nuôi dạy con cái. Đến năm 2022 anh H và chị L đều đi lao động tại nước ngoài, vợ chồng không còn chung sống với nhau, mỗi người ở một nơi nên không có sự quan tâm, chia sẻ được với nhau về cuộc sống, tình cảm. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh H, chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh bởi lời khai của các đương sự, quan điểm của gia đình, địa phương, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh H được ly hôn chị L là phù hợp với Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về quan hệ con chung: Anh H, chị L có 02 con chung là Vũ Quốc B, sinh ngày 06/07/2017 và cháu Vũ Thị Q, sinh ngày 02/01/2020. Cháu Vũ Quốc B có nguyện vọng ở với anh H. Chị L nhất trí để anh H nuôi con. Để đảm bảo sự ổn định và phát triển tốt nhất cho con chung chưa thành niên, HĐXX giao cho do anh H nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cả hai con chung là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng cho con. Như vậy là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình và nguyện vọng của các đương sự.

. Về tài sản chung, vay nợ: Anh H và chị L xác định không có tài chung, nợ chung và không đề nghị Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.

. Về án phí: Anh H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Quốc H ly hôn với chị Vũ Thị L.

2. Về con chung: Giao cho anh Vũ Quốc H chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Quốc B, sinh ngày 06/07/2017 và Vũ Thị Q, sinh ngày 02/01/2020. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Vũ Quốc H không yêu cầu chị Vũ Thị L phải cấp dưỡng cho con.

Chị Vũ Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Vũ Quốc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005300 ngày 06/11/2024.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày. Anh Vũ Quốc H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày. Kể từ ngày các đương sự nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ