- Tranh chấp gì? án hành chính — "Lê Duy Ng - Chủ tịch UBND tp VP, tỉnh VP"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của ông Lê Duy N và kháng cáo của bà Nguyễn Thị Tỉnh.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 460/2024/HC-PT Ngày 17/8/2024 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Đ
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Mạnh T
Ông Ong Thân T
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thùy Tr, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc H, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 17 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 188/2024/TLPT-HC ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, do có kháng cáo của người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2023/HC-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh VP.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 8605/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Ông Lê Duy N, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ dân phố Thanh Giã 2, phường Khai Quang, thành phố VY, tỉnh VP; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Duy N: Ông Nguyễn Văn Hưng, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số 46, đường Nguyễn Tất Thành, phường Định Trung, thành phố VY, tỉnh VP; có mặt.
* Người bị kiện:
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố VY; Địa chỉ: Số 09, đường Lê Lợi, phường Tích Sơn, thành phố VY, tỉnh VP;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Văn Quyết - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố VY; có đơn xin xét xử vắng mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Lê Học Hải - Trưởng phòng Tư pháp thành phố VY và bà Đoàn Thị Tuyết - Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố VY; có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh VP; Địa chỉ: Số 38-40 đường Nguyễn Trãi, phường Đống Đa, thành phố VY, tỉnh VP;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Việt Văn - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh VP; có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Tỉnh, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ dân phố Thanh Giã 2, phường Khai Quang, thành phố VY, tỉnh VP; có mặt.
2. Công ty TNHH Kim Long; Địa chỉ: Số 53, đường Ngô Quyền, phường Ngô Quyền, thành phố VY, tỉnh VP;
Người đại diện hợp pháp: Bà Bà Vũ Thụy Vân - Giám đốc; vắng mặt.
3. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh VP; Địa chỉ: Đường Hai Bà Trưng, phường Đống Đa, thành phố VY, tỉnh VP;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành Hưng - Phó giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh VP; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Vũ Đức Thái - Viên chức Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh VP; có mặt.
4. Ủy ban nhân dân phường Khai Quang, thành phố VY, tỉnh VP; Địa chỉ: Số 545, đường Mê Linh, phường Khai Quang, thành phố VY, tỉnh VP;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh Bình - Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Khai Quang; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Người khởi kiện là ông Lê Duy N và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Tháng 9 năm 2020 gia đình ông Lê Duy N đã nhận chuyển nhượng của gia đình ông Phạm Gia Diện và bà Hoàng Thị Tý một thửa đất diện tích khoảng 1400m2 đất tại: Khu Đồng Hoản, TDP Trại Giao, phường Khai Quang, thành phố VY, tỉnh VP. Nguồn gốc thửa đất trên là của gia đình ông bà Diện, Tý khai hoang từ trước năm 1982. Khi nhận chuyển nhượng, trên thửa đất có 02 căn nhà cấp 4, trong đó có 01 căn nhà 40m2 xây dựng vào năm 1991, 01 căn nhà diện tích khoảng 55m2 xây dựng năm 2018, ngoài ra còn có tường rào bao loan xung quanh nhà và 50 cây mít có tuổi đời trên 20 năm và các cây trồng khác.
Ngày 28/10/2022, ông Nguyên nhận được quyết định số 3344/QĐ-XPHC đề ngày 27/10/2022 của Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) thành phố VY về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai của gia đình ông Nguyên. Do không đồng ý với việc xử phạt vi phạm hành chính, ngày 30/10/2022, ông Nguyên gửi đơn khiếu nại quyết định số 3344/QĐ-XPHC đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố VY. Trong quá trình Chủ tịch UBND thành phố VY thụ lý giải quyết đơn khiếu nại, ngày 23/11/2022, ông Nguyên tiếp tục nhận được Quyết định số 3634/QĐ-CCXP để ngày 23/11/2022 của Phó chủ tịch UBND thành phố VY cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Sau đó, ông Nguyên nhận được Quyết định số 450/QĐ-UBND đề ngày 27/02/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố VY về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của ông Lê Duy N ở phường Khai Quang, thành phố VY (lần đầu), quyết định: “Giữ nguyên Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố VY về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Duy N ở phường Khai Quang, thành phố VY, tỉnh VP. Yêu cầu ông Lê Duy N chấp hành, thực hiện nghiêm Quyết định số 3344/QĐ-XPHC của Chủ tịch UBND thành phố VY.”
Nhận thấy, kết quả giải quyết khiếu nại chưa thỏa đáng, ông Nguyên tiếp tục có đơn khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh VP. Ngày 09/6/2023, Chủ tịch UBND tỉnh VP ban hành quyết định số 1285/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Duy N ở khu Đồng Hoản, tổ dân phố Trại Giao, phường Khai Quang, thành phố VY (lần hai). Quyết định này của Chủ tịch UBND tỉnh VP “Công nhận và giữ nguyên Quyết định số 450/QĐ-UBND ngày 27/02/2023 của Chủ tịch UBND thành phố VY”.
Các quyết định hành chính nêu trên (bao gồm cả quyết định liên quan đến việc xử phạt và quyết định giải quyết khiếu nại) đều không đúng, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông Lê Duy N. Vợ ông Nguyên - bà Nguyễn Thị Tỉnh là con liệt sỹ Nguyễn Thanh Bình, sinh năm 1942, quê quán xã Tam Quan, huyện Tam Đảo, tỉnh VP). Ông Nguyên đã phục vụ công tác nhiều năm trong quân đội nay về hưu và vợ ông - thân nhân liệt sỹ, người có công với cách mạng là hai đối tượng được Nhà nước quan tâm và có những chế độ ưu đãi đặc biệt đảm bảo cuộc sống ổn định cho họ.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 40 Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng 2015 quy định về chế độ, chính sách đối với quân nhân “…c) Được chính quyền địa phương nơi cư trú tạo điều kiện ổn định cuộc sống; trường hợp chưa có nhà ở thì được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật…” và căn cứ theo điểm g Điều 5 Pháp lệnh người có công với cách mạng năm 2020 về chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng. “g) Miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất ở, chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở, công nhận quyền sử dụng đất ở, khi được mua nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước…”
Hơn nữa, trước khi gia đình ông Nguyên nhận chuyển nhượng và sinh sống trên thửa đất này, người chuyển nhượng cho ông Nguyên là gia đình ông Phạm Gia Diện và bà Hoàng Thị Tý đã sử dụng ổn định từ trước những năm 1982, thậm chí trên thửa đất đã có một số công trình được xây dựng vào năm 1991, từ trước đến nay chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy, việc xem xét giải quyết chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của ông Nguyên và xem xét nhu cầu về nhà ở của gia đình ông Nguyên rất cấp thiết.
Đề nghị Tòa án:
- Hủy Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 của Phó Chủ tịch UBND thành phố VY về việc xử phạt vi phạm hành chính;
- Hủy Quyết định số 3634/QĐ-CCXP ngày 23/11/2022 của Phó Chủ tịch UBND thành phố VY về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả;
- Hủy Quyết định số 450/QĐ-UBND ngày 27/02/2023 của Chủ tịch UBND thành phố VY về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Duy N ở phường Khai Quang, thành phố VY;
- Hủy quyết định số 1285/QĐ-UBND ngày 09/6/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh VP về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Duy N ở khu Đồng Hoản, tổ dân phố Trại Giao, phường Khai Quang, thành phố VY (lần hai).
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố VY trình bày:
Hồ sơ, tài liệu liên quan đến nguồn gốc, diện tích đất ông Lê Duy N đang sử dụng:
Ngày 31/01/1997, UBND tỉnh VP ban hành Quyết định số 169/QĐ-UB V/v thu hồi 116,072 ha đất thuộc phường Liên Bảo và xã Khai Quang, thị xã Vĩnh Yên để giao cho Công ty TNHH Kim Long trồng mía theo dự án được UBND tỉnh phê duyệt (trong đó có 90,06 ha đất thuộc xã Khai Quang nay là phường Khai Quang).
Ngày 04/3/1997, Sở Địa chính Vĩnh Phúc, Phòng Địa chính Vĩnh Yên, Phòng Tài chính Vĩnh Yên, Tổ Nông nghiệp thị xã Vĩnh Yên, UBND xã Khai Quang đã tiến hành bàn giao mốc giới tại thực địa diện tích đất 90,06 ha tại Xã Khai Quang cho công ty TNHH Kim Long.
Ngày 08/3/1997, UBND thị xã Vĩnh Yên, UBND xã Khai Quang, Công ty TNHH Kim Long đã làm việc về nội dung đền bù cây bạch đàn chu kỳ II trên diện tích 90,6 ha đất thu hồi theo Quyết định 169/QĐUB ngày 31/01/1997 của UBND tỉnh VP.
Ngày 13/3/1997 UBND thị xã Vĩnh Yên (nay là thành phố VY) đã ban hành Quyết định số 27/QĐ-UB về việc phê duyệt giá đền bù cây bạch đàn chu kỳ II trên diện tích 90,06 ha thu hồi tại địa điểm xã Khai Quang.
Ngày 29/8/2018, UBND tỉnh VP ban hành Quyết định số 1992/QĐ-UBND Về việc thu hồi đất của Công ty TNHH Kim Long do hết hạn sử dụng đất và không được gia hạn theo quy định của pháp Luật Đất đai, địa điểm tại các xã, phường: Định Trung, Liên Bảo và Khai Quang, thành phố VY.
Năm 2021, Sở Tài nguyên và Môi trường lập Mảnh trích đo địa chính số 47-2021 thu hồi đất Công ty TNHH Kim Long tại phường Khai Quang, thành phố VY, tỉnh VP (Đo đạc theo Quyết định số 1992/QĐ-UBND ngày 29/8/2018 của UBND tỉnh VP), xác định thửa đất ông Lê Duy N đang sử dụng là thửa đất số 89 diện tích 1560,1m2, loại đất: đất trồng cây lâu năm (CLN), thuộc diện tích đất UBND tỉnh VP thu hồi của Công ty TNHH Kim Long tại Quyết định số 1992/QĐ-UBND.
Về trình tự, thủ tục thiết lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính, ban hành Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 và Quyết định số 3634/QĐ-CCXP ngày 23/11/2022 đối với ông Lê Duy N:
- Ngày 22/10/2022, UBND phường Khai Quang có Biên bản làm việc về việc xác minh nguồn gốc đất, quá trình sử dụng.
- Ngày 22/10/2022, UBND phường Khai Quang có thiết lập Biên bản vi phạm hành chính số 83/BB-VPHC.
- Ngày 23/10/2022, Chủ tịch UBND phường Khai Quang có Tờ trình số 264/TTr-UBND ngày 23/10/2022 về việc đề nghị ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
- Sau khi nhận được hồ sơ xử lý vi phạm hành chính đối với ông Lê Duy N, phòng TN&MT đã kiểm tra và phát hiện tờ trình của Chủ tịch UBND phường Khai Quang còn một số thiếu sót nên đã hướng dẫn UBND phường Khai Quang xem xét và hoàn thiện lại tờ trình.
- Ngày 25/10/2022, Chủ tịch UBND phường Khai Quang có Tờ trình số 270/TTr-UBND của UBND phường Khai Quang về việc đề nghị ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (thay thế Tờ trình số 264/TTr-UBND ngày 23/10/2022).
Đối chiếu với quy định tại Điều 38, Điều 57, Điều 68, Điều 70, Điều 78, Điều 85 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 của Chính phủ, sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; tài nguyên nước và khoáng sản; khí tượng thủy văn; đo đạc và bản đồ, Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 về xử lý vi phạm hành chính đối với ông Lê Duy N.
Ngày 28/10/2022, UBND phường Khai Quang bàn giao Quyết định số 3344/QĐ-XPHC về xử lý vi phạm hành chính cho ông Lê Duy N.
Hết thời gian tự nguyện chấp hành theo Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 nhưng ông Lê Duy N không tự nguyện chấp hành, ngày 17/11/2022, Chủ tịch UBND phường Khai Quang có Tờ trình số 330/TTr-UBND trình Chủ tịch UBND thành phố ban hành quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Ngày 23/11/2022, Chủ tịch UBND thành phố VY ban hành Quyết định số 3634/QĐ-CCXP về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Lê Duy N.
Do sơ suất trong quá trình soạn thảo Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 và Quyết định số 3634/QĐ-CCXP ngày 23/11/2022 đã ghi nhầm phần thẩm quyền ban hành, cụ thể: Tại phần ghi về “THẨM QUYỀN BAN HÀNH” của Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 và Quyết định số 3634/QĐ-CCXP ngày 23/11/2022 theo quy định phải ghi là “CHỦ TỊCH UBND THÀNH PHỐ VY” nhưng quyết định lại ghi là “PHÓ CHỦ TỊCH UBND THÀNH PHỐ VY”.
Ngày 03/4/2023, Chủ tịch UBND thành phố VY đã ban hành Quyết định số 767/QĐ-ĐC đính chính Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 và Quyết định số 3634/QĐ-CCXP ngày 23/11/2022, giao Quyết định số 767/QĐ-ĐC ngày 03/4/2023 cho ông Lê Duy N.
Về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại và ban hành Quyết định số 450/QĐ-UBND ngày 27/02/2023:
- Tiếp nhận, xử lý đơn của ông Lê Duy N:
+ Ngày 30/10/2022, ông Lê Duy N có đơn khiếu nại gửi UBND thành phố VY.
+ Ngày 07/11/2022, UBND thành phố có văn bản số 3621/UBND-TP về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Lê Duy N, nơi ở hiện nay: Khu Đồng Hoản, Trại Giao, phường Khai Quang, thành phố VY.
+ Ngày 11/11/2022, được Chủ tịch UBND thành phố giao, Thanh tra thành phố đã mời ông Lê Duy N làm việc để xác định rõ nội dung khiếu nại trong đơn (theo Giấy mời số 63/GM-TTr ngày 08/11/2022 của Thanh tra thành phố và Biên bản làm việc ngày 11/11/2022).
+ Theo đó, xác định Đơn khiếu nại của ông Lê Duy N là: Khiếu nại Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố VY về xử lý vi phạm hành chính đối với ông Lê Duy N.
Ngày 12/12/2022, Thanh tra thành phố đã có Phiếu đề xuất thụ lý đơn khiếu nại (số 01/ĐX-TTr) trình Chủ tịch UBND thành phố xem xét.
- Giải quyết khiếu nại của ông Lê Duy N:
+ Ngày 19/12/2022, UBND thành phố đã ban hành Thông báo số 311/TB-UBND về việc thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu; Chủ tịch UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 3917/QĐ-UBND về việc xác minh nội dung khiếu nại của ông Lê Duy N và thành lập Tổ xác minh đơn.
+ Quá trình xác minh, Tổ xác minh đã làm việc với: UBND phường Khai Quang; phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố; phòng Tư pháp thành phố, ông Lê Duy N để xác minh, làm rõ căn cứ, cơ sở pháp lý để Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 về xử lý vi phạm hành chính đối với ông Lê Duy N (có Biên bản làm việc ngày 10/01/2023 và 03 Biên bản làm việc ngày 06/02/2023; kèm theo các Công văn thông báo, mời làm việc).
+ Ngày 02/02/2023, do còn nhiều nội dung phải xác minh, làm rõ, UBND thành phố ban hành Quyết định số 279/QĐ-UBND gia hạn thời gian xác minh đơn khiếu nại là 15 ngày.
+ Ngày 23/02/2023, Tổ xác minh đã ban hành Báo cáo số 06/BC-TTr về kết quả xác minh khiếu nại của ông Lê Duy N ở phường Khai Quang, thành phố VY, khiếu nại Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố VY.
+ Ngày 27/02/2023, Chủ tịch UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 450/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Duy N ở phường Khai Quang, thành phố VY (lần đầu).
+ Ngày 06/3/2023, UBND thành phố công bố Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Lê Duy N ở phường Khai Quang, thành phố VY (theo văn bản ngày 02/3/2023 của Thanh tra thành phố và Biên bản công bố ngày 06/3/2023).
+ Sau khi UBND thành phố ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, ông Lê Duy N không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND thành phố và đã có đơn khiếu nại gửi UBND tỉnh VP. Chủ tịch UBND tỉnh đã thụ lý và ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại (lần 2) số 1285/QĐ-UBND ngày 09/6/2023 với nội dung công nhận và giữ nguyên Quyết định số 450/QĐ-UBND ngày 27/02/2023 của Chủ tịch UBND thành phố VY về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Duy N ở phường Khai Quang, thành phố VY (lần đầu).
Quan điểm của UBND thành phố: Việc Chủ tịch UBND thành phố VY ban hành Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 về việc xử phạt vi phạm hành chính; Quyết định số 3634/QĐ-CCXP ngày 23/11/2022 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả; Quyết định số 450/QĐ-UBND ngày 27/02/2023 về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Duy N ở phường Khai Quang, thành phố VY (lần đầu) là đảm bảo căn cứ, cơ sở pháp lý, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh VP giữ nguyên Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022; Quyết định số 3634/QĐ-CCXP ngày 23/11/2022; Quyết định số 450/QĐ-UBND ngày 27/02/2023 của Chủ tịch UBND thành phố VY.
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh VP trình bày:
Chủ tịch UBND tỉnh nhận được đơn của ông Lê Duy N ở khu Đồng Hoản, tổ dân phố Trại Giao, phường Khai Quang khiếu nại đối với Quyết định số 3344/QD-XPHC ngày 27/10/2022 cùa Chủ tịch UBND thành phố VY về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (được đính chính tại Quyết định số 767/QĐ-DC ngày 03/4/2023 của Chủ tịch UBND thành phố VY) và yêu cầu giải quyết hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND thành phố VY, với lý do:
- Thửa đất gia đình ông Lê Duy N đang sử dụng có nguồn gốc là đất khai hoang sử dụng ổn định từ năm 1982, không phải đất của Công ty TNHH Kim Long; không công nhận Biên bản vi phạm hành chính số 83/BB-VPHC cùa UBND phường Khai Quang và Quyết định xử phạt hành chính số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 (được đính chính tại Quyết định số 767/QĐ ngày 03/4/2023) cùa Chủ tịch UBND thành phố VY.
- Nội dung ghi trong Quyết định giải quyết khiếu nại (lần 1) của Chủ tịch UBND thành phố VY không thống nhất, cụ thể: Tại trang 2 dòng 17 nói là đất lâm nghiệp núi Đanh, núi Đúng, vẫn trang 2 dòng thứ 3 từ dưới lên lại là núi Bông và dòng cuối cùng của trang 3 là đất đồi Bái Hộ; Trang 2 dòng 34 thì nói thu hồi giao cho Ban Giải Phóng mặt bằng và phát triển quỹ đất tỉnh, tại trang 4 dòng thứ 5 lại giao cho UBND thành phố VY.
Sau khi xem xét nội dung, hồ sơ, tài liệu và căn cứ quy định của pháp luật thì nội dung ông Lê Duy N khiếu nại nêu trên là không có cơ sở xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật, với lí do:
- Ông Lê Duy N đang sử dụng thửa đất số 89, diện tích 1.560,1m2 thuộc Mảnh địa chính số 47-2021 có nguồn gốc do UBND xã Khai Quang (nay là phường Khai Quang) quản lý, được Nhà nước thu hồi và đền bù tài sản trên đất cho Hợp tác xã nông nghiệp Khai Quang để giao cho Công ty TNHH Kim Long thực hiện dự án trồng mía theo Quyết định cố 169/QĐUB ngày 31/01/1997 của UBND tỉnh. Đến 19/8/2018, UBND tỉnh đã thu hồi đất của Công ty TNHH Kim Long tại Quyết định số 1992/QĐ-UBND để giao cho Ban Giải phóng mặt bằng và phát triển quỹ đất tỉnh quản lý, sau đó Ban Giải phóng mặt bằng và phát triển quỹ đất tỉnh bàn giao lại cho UBND thành phố VY quản lý theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại Quyết định số 3316/QĐ-UBND ngày 26/12/2019. Vì vậy, việc ông Lê Duy N cho rằng diện tích 1560m2 đất đang sử dụng có nguồn gốc là đất khai hoang từ năm 1982 của gia đình ông Phạm Gia Diện và bà Hoàng Thị Tý bán cho vợ chồng ông Lê Duy N là không có căn cứ để xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại thời điểm kiểm tra, ông Lê Duy N là người trực tiếp sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và là đối tượng đang thực hiện hành vi vi phạm tại thửa đất số 89, diện tích 1560,1m2, Mảnh trích đo địa chính số 47-2021 đã được UBND tỉnh thu hồi đất Công ty TNHH Kim Long tại phường Khai Quang, thành phố VY theo quyết định số 1992/QĐ-UBND ngày 29/8/2018 của UBND tỉnh VP. Vì vậy, UBND phường Khai Quang đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 83/BB-VPHC ngày 22/10/2022 và Chủ tịch UBND thành phố VY ban hành Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 về xử phạt vi phạm hành chính (được đính chính tại Quyết định số 767/QĐ-ĐC ngày 03/4/2023) đối với ông Lê Duy N có hành vi vi phạm chiếm đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm) và xác định số lợi bất hợp pháp là đúng theo quy định tại điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 14 và khoản 2 Điều 7 Nghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
- Ông Lê Duy N cho rằng tại trang 2 dòng 17 nói là đất lâm nghiệp núi Đanh, núi Đúng, vẫn trang 2 dòng thứ 3 từ dưới lên lại là núi Bông và dòng cuối cùng của trang 3 là đất Bái Hộ; trang 2 dòng 34 thì nói thu hồi giao cho Ban Giải phóng mặt bằng và phát triển quỹ đất tỉnh, tại trang 4 dòng thứ 5 lại giao cho UBND thành phố VY ghi trong Quyết định số 450/QĐ-UBND ngày 27/2/2023 của Chủ tịch UBND thành phố VY về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Duy N là không thống nhất. Nội dung này, ghi trong Quyết định giải quyết khiếu nại (lần 1) của Chủ tịch thành phố VY là không sai và không thay đổi bản chất vụ việc vì địa điểm đất vi phạm của ông Nguyên là thuộc khu đồi Bái Hộ (chân núi Bông), nội dung ghi trong Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND thành phố VY là căn cứ vào Quyết định giao đất cho Công ty TNHH Kim Long là khu vực núi Đanh, núi Bông là không sai nhưng chưa cụ thể vị trí. UBND tỉnh VP đã thu hồi đất của Công ty TNHH Kim Long và giao cho Ban Giải phóng mặt bằng và phát triển quỹ đất tỉnh quản lý theo Quyết định 1992/QĐ-UBND ngày 29/8/2018, đến ngày 26/12/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3316/QĐ-UBND giao cho UBND thành phố VY quản lý.
Tóm lại, bản chất vụ việc là số diện tích 1.560,1m2 tại thửa đất số 89 mà gia đình ông Lê Duy N mua của gia đình ông Phạm Gia Diện và bà Hoàng Thị Tý có nguồn gốc do UBND xã Khai Quang (nay là phường Khai Quang) quản lý sau đó Nhà nước thu hồi, bồi thường giao Công ty TNHH Kim Long thực hiện dự án trồng mía chứ không phải do ông Phạm Gia Diện và bà Hoàng Thị Tý khai hoang trước đó. Việc gia đình ông Lê Duy N ký hợp đồng đặt cọc mua bán và sử dụng thửa đất nêu trên từ năm 2020 là trái pháp luật, do đó Chủ tịch UBND thành phố VY ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Duy N có hành vi vi phạm chiếm đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm) và xác định số lợi bất hợp pháp là đúng theo quy định của pháp luật.
Từ các căn cứ nêu trên Chủ tịch UBND tỉnh VP ban hành Quyết định 1285/QĐ-UBND ngày 09/6/2023 về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Duy N là đúng theo quy định của pháp luật. Việc ông Lê Duy N yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 1285/QĐ-UBND ngày 09/6/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh VP là không có cơ sở và căn cứ pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh VP xem xét, giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Kim Long trình bày:
Công ty TNHH Kim Long được Nhà nước giao đất để thực hiện dự án trồng mía, trồng cây ăn quả tại 3 xã phường: Khai Quang, Liên Bảo, Định Trung thuộc thành phố VY, tỉnh VP. Hiện nay khu đất trên đã được UBND tỉnh VP ra quyết định thu hồi đất tại quyết định số 1992/QĐ-UBND ngày 29/8/2018 do hết hạn sử dụng.
Công ty đã phối hợp cùng các cơ quan có thẩm quyền đo đạc để lập bản đồ địa chính thu hồi đất, còn việc kiểm đếm cây cối hoa màu thì đến nay vẫn chưa thực hiện. Về chủ trương thu hồi đất khi hết hạn sử dụng và không được gia hạn theo quy định của Luật Đất đai, Công ty chúng tôi hoàn toàn nhất trí theo chủ trương của Nhà nước và pháp luật.
Nay, Công ty Kim Long được Tòa án Nhân dân tỉnh VP xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số: 50/2023/TLST-HC ngày 12/7/2023 và đề nghị Công ty phối hợp làm việc để sớm đưa vụ án ra xét xử.
Về việc này, chúng tôi không nắm được sự việc liên quan đến gia đình ông Lê Duy N xây dựng và bị UBND thành phố ra các quyết định xử lý phạm, thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả. Việc các hộ dân tự ý lấn chiếm xây dựng trái phép thuộc thẩm quyền của chính quyền các cấp. Công ty chúng tôi không có bất cứ ý kiến gì tham gia vào việc khởi kiện giữa các bên. Tuy nhiên, công ty sẽ tích cực phối hợp với các cơ quan tố tụng trong việc giải quyết vụ án trên theo đúng qui định pháp luật.
Đại diện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh VP trình bày:
Căn cứ pháp lý lập mảnh trích đo địa chính số 47-2021:
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, ngày 19/5/2014 của Chính Phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai;
- Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính Phủ về sửa đổi bổ sung một số nghị định chi tiết thi hành Luật Đất đai;
- Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 13/3/2019 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đo đạc và bản đồ;
- Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về hồ sơ địa chính;
- Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về thành lập bản đồ địa chính;
- Thông tư số 136/2017/TT -BTC ngày 22/12/2017 của Bộ Tài Chính về Quy định, quản lý, sử dụng kinh phí chi hoạt động kinh tế đối với các nhiệm vụ chi về tài nguyên môi trường;
- Quyết định số 83/2000/QĐ-TTg, ngày 12/7/2000 của Thủ tướng Chính Phủ về sử dụng hệ quy chiếu và hệ toạ độ Quốc gia Việt nam VN-2000;
- Thông tư số 49/2016/TT-BTNMT ngày 28/12/2016 của Bộ tài nguyên và Môi trường về việc Kiểm tra thẩm định và nghiệm thu công trình sản phẩm địa chính;
- Quyết định số 25/2018/QĐ-UBND ngày 31/10/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh VP về việc ban hành đơn giá đo đạc lập bản đồ địa chính; đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất; lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, quét hồ sơ đăng ký đất đai trên địa bàn tỉnh VP;
- Quyết định số 169/QĐ-UB ngày 31/01/1997 của UBND tỉnh VP về việc thu hồi 116,072 ha đất thuộc phường Liên Bảo và xã Khai Quang, thị xã Vĩnh Yên (nay là thành phố VY) để giao cho Công ty TNHH Kim Long trồng mía theo dự án được UBND tỉnh phê duyệt;
- Quyết định số 1992/QĐ-UBND ngày 29/8/2018 của UBND tỉnh VP về việc thu hồi đất của Công ty TNHH Kim Long do hết hạn sử dụng đất và không được gia hạn theo quy định của pháp Luật Đất đai, địa điểm tại các xã, phường: Định Trung, Liên Bảo và Khai Quang - thành phố VY - tỉnh Vĩnh Phúc.
Các tài liệu dùng trong thi công lập mảnh trích đo địa chính số 47-2021:
Các căn cứ dùng trong thi công:
- Quyết định số 1992/QĐ-UBND ngày 29/8/2018 của UBND tỉnh VP về việc thu hồi đất của Công ty TNHH Kim Long do hết hạn sử dụng đất và không được gia hạn theo quy định của pháp Luật Đất đai, địa điểm tại các xã, phường: Định Trung, Liên Bảo và Khai Quang - thành phố VY - tỉnh Vĩnh Phúc;
- Quyết định số 2958/QĐ-UBND ngày 30/11/2020 của UBND tỉnh VP về việc phê duyệt Phương án thi công nhiệm vụ: Đo vẽ thành lập mảnh trích đo địa chính tỷ lệ 1/1000 và xác định, cắm mốc ranh giới thu hồi đất Công ty TNHH Kim Long tại các xã, phường: Định Trung, Liên Bảo và Khai Quang - thành phố VY để giao cho UBND thành phố VY quản lý theo quy định và đo đạc kiểm tra xử lý các vi phạm sử dụng đất tại khu vực núi Đúng, núi Đinh trên địa bàn huyện Tam Dương, Bình Xuyên và thành phố VY;
- Kế hoạch 171/KH-TCT ngày 17/7/2020 của Tổ Công tác giải quyết các tồn tại, vướng mắc trong việc thu hồi đất đã giao cho Công ty TNHH Kim Long theo Quyết định số 2140/QĐ-UB ngày 07/11/1995, Quyết định số 169/QĐ-UB ngày 31/01/1997 của UBND tỉnh; xử lý các vi phạm tại khu vực núi Đúng, núi Đinh trên địa bàn huyện Tam Dương, Bình Xuyên và thành phố VY;
- Quyết định số 418/QĐ-STNMT ngày 12/8/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc thành lập Tổ chuyên môn giúp việc tham mưu cho Giám đốc Sở thực hiện kế hoạch 171/KH-TCT ngày 17/7/2020 của Tổ Công tác UBND tỉnh và phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong Tổ;
- Quyết định số 2080/QĐ-CTUBND ngày 20/8/2020 của Chủ tịch UBND thành phố VY về việc thành lập Tổ chuyên môn giúp UBND thành phố VY trong việc thực hiện công tác kiểm kê tài sản, cây cối, vật kiến trúc trên đất, xác định giá trị còn lại, đề xuất lên phương án hỗ trợ, giải phóng mặt bằng (nếu có) trên khu đất đã thu hồi của Công ty TNHH Kim Long tại Quyết định số 1992/QĐ-UBND ngày 29/8/2018 của UBND tỉnh VP;
- Kế hoạch số 06/KH-STNMT ngày 08/3/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc triển khai công tác đo vẽ thành lập mảnh trích đo địa chính và xác định, cắm mốc ranh giới thu hồi đất Công ty TNHH Kim Long tại các xã, phường: Định Trung, Liên Bảo và Khai Quang - thành phố VY để giao cho UBND thành phố VY quản lý theo quy định và đo đạc kiểm tra xử lý các vi phạm sử dụng đất tại khu vực núi Đúng, núi Đinh trên địa bàn huyện Tam Dương, Bình Xuyên và thành phố VY.
Các Quyết định thu hồi đất:
- Quyết định 413/2002/QĐ-UB ngày 20/9/2002 của UBND thị xã Vĩnh Yên (nay là thành phố VY) giao cho hộ hộ ông Trần Văn Mùi;
- Các Quyết định thu hồi và giao đất xây dựng bãi rác: Quyết định số 1315 ngày 20/06/2001 UBND tỉnh; Quyết định số 1648 ngày 12/7/2001 UBND tỉnh; Quyết định số 1865 ngày 30/7/2001 UBND tỉnh; Quyết định số 2779 ngày 22/10/1999 UBND tỉnh;
- Quyết định số 720/QĐ-UB ngày 13/3/2000 của UBND thị xã Vĩnh Yên (nay là thành phố VY) thu hồi và giao cho Công ty TNHH Chuyển giao công nghệ và xử lý môi trường Vĩnh Phúc;
Tài liệu đo đạc bản đồ qua các thời kỳ khu vực thi công:
- Bản đồ địa giới hành chính 364 của các xã, phường: Khai Quang, thành phố VY; xã Hương Sơn, huyện Bình Xuyên; xã Kim Long, huyện Tam Dương;
- Bản đồ địa chính phường Khai Quang đo đạc năm 2001 gồm các tờ bản đồ địa chính 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 11;
- Bản đồ địa hình tỷ lệ 1/2000; 1/5000; 1/10 000.
- Ảnh hàng không qua các thời kỳ 2000, 2011, 2016.
Quy trình thực hiện đo đạc lập mảnh trích đo địa chính số 47-2021:
Quy trình đo đạc được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về thành lập bản đồ địa chính; Quyết định số 2958/QĐ-UBND ngày 30/11/2020 của UBND tỉnh VP về việc phê duyệt Phương án thi công nhiệm vụ: Đo vẽ thành lập mảnh trích đo địa chính tỷ lệ 1/1000 và xác định, cắm mốc ranh giới thu hồi đất Công ty TNHH Kim Long tại các xã, phường: Định Trung, Liên Bảo và Khai Quang - thành phố VY để giao cho UBND thành phố VY quản lý theo quy định và đo đạc kiểm tra xử lý các vi phạm sử dụng đất tại khu vực Núi Đúng, Núi Đinh trên địa bàn huyện Tam Dương, Bình Xuyên và thành phố VY, cụ thể:
Công tác Ngoại nghiệp:
- Xác định ranh giới, mốc giới, đánh dấu bôi sơn, đóng cọc chi tiết các thửa đất theo hiện trạng sử dụng; các chủ sử dụng đất tiếp giáp trong quá trình đo đạc đảm bảo thống nhất về ranh giới sử dụng đất với ranh giới sử dụng đất của Công ty Kim Long;
- Lập và ký Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất tại thực địa, đồng thời tiến hành đo vẽ chi tiết cho từng thửa đất;
- Đối với khu vực dân cư, khu vực xây dựng công trình phải được xác định và đo đạc đầy đủ, chi tiết các công trình chính và các khu vực sử dụng với nhiều mục đích;
Thành phần tham gia trực tiếp tại thực địa:
- Văn phòng Đăng ký đất đai (đơn vị đo vẽ): bố trí 03 Tổ đo vẽ gồm 09 cán bộ, đơn vị chủ động trang thiết bị, máy móc phục vụ quá trình đo vẽ trực tiếp tại thực địa.
- UBND thành phố VY:
+ Cử cán bộ chuyên môn trực tiếp tham gia trong quá trình đo vẽ;
+ Cử tối thiểu 03 đồng chí trong lực lượng Công an trực tiếp thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh và bảo vệ thi công trong suốt quá trình thực hiện tại thực địa.
- UBND phường Khai Quang:
+ Cử cán bộ địa chính và các ông bà trưởng khu hành chính trực tiếp thực hiện công tác dẫn đạc, xác định ranh giới mốc giới chi tiết các thửa đất đảm bảo thời gian thực hiện liên tục để duy trì công việc thực hiện tại thực địa;
+ Thông báo, tuyên truyền tới các chủ sử dụng đất, các chủ sử dụng đất tiếp giáp có mặt tại thửa đất khi Tổ đo vẽ thực hiện nhiệm vụ;
+ Trực tiếp tham gia giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan trong quá trình đo vẽ trên địa bàn địa phương đang quản lý.
- Công ty TNHH Kim Long:
+ Công ty TNHH Kim Long cử cán bộ nắm rõ tình hình quản lý sử dụng đất của Công ty trực tiếp thực hiện việc chỉ, xác định ranh giới mốc giới sử dụng đất của Công ty tại phường Khai Quang; cùng đơn vị đo đạc đánh dấu bằng cọc tre, cọc gỗ, dấu sơn, hoặc đóng đinh vào những vị trí đỉnh thửa. Chịu trách nhiệm bảo quản mốc trong suốt quá trình thành lập bản đồ địa chính, giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc;
+ Cùng các hộ tiếp giáp phải ký vào Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất.
- Các chủ sử dụng đất tiếp giáp liền kề:
- Các cơ quan, tổ chức, các hộ gia đình sử dụng đất liền kề có trách nhiệm xác định ranh giới, mốc giới đơn vị mình, gia đình mình đang quản lý sử dụng tại thực địa. cùng đơn vị đo đạc đánh dấu bằng cọc tre, cọc gỗ, dấu sơn, hoặc đóng đinh vào những vị trí đỉnh thửa. Chịu trách nhiệm bảo quản mốc trong suốt quá trình thành lập bản đồ địa chính.
Công tác nội nghiệp:
Biên tập bản đồ, tính toán diện tích, quy chủ loại đất, tổng hợp diện tích sổ sách, rà soát đối chiếu với các tài liệu hồ sơ dùng trong thi công... in ấn công khai bản đồ địa chính.
Công tác xác định cắm mốc giới:
Sau khi đo vẽ xong mảnh trích đo địa chính, xác định được ranh giới khu vực thu hồi đất của Công ty TNHH Kim Long để giao cho UBND thành phố VY quản lý. Đơn vị thi công dùng máy GPS-RTK và máy toàn đạc điện tử xác định chính xác các vị trí cần chôn mốc bê tông trên ranh giới thu hồi đất được thể hiện trên mảnh trích đo địa chính đã được kiểm tra nghiệm thu đạt yêu cầu theo quy trình quy phạm.
Công tác kiểm tra nghiệm thu:
Công tác kiểm tra nghiệm thu sản phẩm được thực hiện đúng quy định của pháp luật hiện hành về kiểm tra nghiệm thu, quy định tại Thông tư số 49/2016/TT-BTNMT ngày 28/12/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc Kiểm tra thẩm định và nghiệm thu công trình sản phẩm địa chính.
Hoàn thiện in ấn và bàn giao sản phẩm:
Sản phẩm được hoàn thiện, in nhân sao và bàn giao sản phẩm cho UBND thành phố VY quản lý.
Kết quả đo đạc trích đo địa chính hiện trạng tại phường Khai Quang:
Diện tích giao theo hồ sơ:
- Diện tích giao theo Quyết định số 169/QĐ-UB ngày 31/01/1997 của UBND tỉnh VP tại phường Khai Quang là: 90,06 ha.
Diện tích theo đo đạc hiện trạng:
- Tổng diện tích đất đo đạc hiện trạng Công ty TNHH Kim Long là: 659610,5m2 (65,96 ha) bao gồm:
+ Diện tích hiện trạng sử dụng đất hộ ông Trần Văn Mùi là 88963,2m2 (8,90 ha)
(Diện tích được giao cho hộ hộ ông Trần Văn Mùi tại Quyết định 413/2002/QĐ-UB ngày 20/9/2002 của UBND thị xã Vĩnh Yên là 10,5 ha);
+ Diện tích đã thu hồi và giao đất xây dựng bãi rác là 51784,5m2 (5,18 ha)
(Diện tích được giao theo 04 quyết định; Quyết định 1315 ngày 20/6/2001 UBND tỉnh; giao theo Quyết định 1648 ngày 12/7/2001 UBND tỉnh; giao theo Quyết định 1865 ngày 30/07/2001 UBND tỉnh; giao theo Quyết định 2779 ngày 22/10/1999 UBND tỉnh là 51784,5m2 (5,18 ha));
+ Diện tích hiện trạng Công ty TNHH Chuyển giao công nghệ và xử lý môi trường Vĩnh Phúc là 5217,8m2 (0,52 ha)
(Diện tích được giao cho Công ty TNHH Chuyển giao công nghệ và xử lý môi trường Vĩnh Phúc tại Quyết định 720 ngày 13/3/2000 của UBND thị xã Vĩnh Yên là 5850,0m2 (0,59 ha));
+ Diện tích hiện trạng đã xây dựng chùa Đạo Hoằng và Đình Đạo Hoằng là 2995,9m2 (0,30 ha);
+ Diện tích hiện trạng còn lại của Công ty TNHH Kim Long theo mốc giới là 510649,1m2 (51,06 ha).
Như vậy, tổng diện tích đo đạc hiện trạng 65,96/90,06 ha, giảm 24,1 ha so với hồ sơ giao; so với hồ sơ thu hồi đất tại phường Khai Quang diện tích là 51,06 ha/65,96 ha (14,90 ha diện tích đã được thu hồi giao đất cho tổ chức, cá nhân).
Kết quả đã được UBND phường Khai Quang, UBND thành phố VY, Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát đối chiếu kiểm tra kỹ thuật, thống nhất ranh giới thu hồi đất của Công ty TNHH Kim Long. Bản đồ đã được công khai theo quy định tại nhà văn hóa khu dân cư và tại UBND phường, đang tiến hành chỉnh sửa theo ý kiến góp ý trong quá trình công khai.
Nguyên nhân diện tích giảm:
Do sơ đồ quy hoạch giao đất được thu phóng trên nền địa hình tỷ lệ nhỏ và được can vẽ thủ công, không có tọa độ khống chế, dẫn đến kẻ vẽ, tính toán diện tích giao đất sai so với thực tế.
Hiện trạng khu đất phía Đông giáp đường tỉnh lộ 302C (một phần diện tích đã được thu hồi thực hiện dự án cải tạo nâng cấp đường vào bãi rác Núi Bông); phía Tây giáp đất ruộng canh tác; phía Nam giáp hồ Đồng Keo, ruộng canh tác, khu dân cư Đạo Hoằng; phía Bắc giáp đất rừng phòng hộ. Vậy diện tích theo sơ đồ quy hoạch giao đất không chính xác.
Từ những căn cứ pháp luật nêu trên, quy trình thực hiện đo đạc lập mảnh trích đo địa chính số 47-2021 đã đảm bảo đúng theo quy định pháp luật về đo đạc và bản đồ, đúng phương án thi công đã được phê duyệt, được UBND thành phố VY, UBND phường, Công ty TNHH Kim Long thống nhất nghiệm thu, ký xác nhận, sản phẩm được các bên bàn giao và nhận theo quy định.
Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh VP giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tỉnh trình bày:
Bà là vợ ông Lê Duy N. Tháng 9 năm 2020 vợ chồng bà có hợp đồng đặt cọc mua thửa đất của ông Phạm Gia Diện và bà Hoàng Thị Tý, diện tích đất khoảng 1.400m2 ở khu Đồng Hoản, tổ dân phố Trại Giao, phường Khai Quang, thành phố VY. Trên thửa đất có 01 căn nhà cấp 4 xây dựng vào năm 1991, 01 căn nhà cấp 4 và công trình phụ khép kín xây dựng năm 2018, tường rào xung quanh nhà và 50 cây mít có tuổi đời trên 20 năm và các cây ăn quả khác. Gia đình bà không xây dựng gì thêm.
Năm 2022 gia đình bà có nhận được các Quyết định 3344, Quyết định 3634, Quyết định 450 của UBND thành phố VY; Quyết định 1285 của Chủ tịch UBND tỉnh VP. Bà không đồng ý với các quyết định trên. Bà nhất trí với việc ông Nguyên đề nghị Tòa án hủy các quyết định 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022, Quyết định số 3634/QĐ-CCXP ngày 23/11/2022, Quyết định 450/QĐ-UBND ngày 27/02/2023, Quyết định 1285 ngày 09/6/2023.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND phường Khai Quang, thành phố VY, tỉnh VP trình bày:
Hồ sơ, tài liệu liên quan đến nguồn gốc, diện tích đất ông Lê Duy N đang sử dụng:
Ngày 31/01/1997, UBND tỉnh VP ban hành Quyết định số 169/QĐ-UB của V/v thu hồi 116,072 ha đất thuộc phường Liên Bảo và xã Khai Quang, thị xã Vĩnh Yên để giao cho Công ty TNHH Kim Long trồng mía theo dự án được UBND tỉnh phê duyệt (trong đó có 90,06 ha đất thuộc xã Khai Quang nay là phường Khai Quang).
Ngày 04/3/1997, Sở Địa chính Vĩnh Phúc, Phòng Địa Chính Vĩnh Yên, Phòng Tài Chính Vĩnh Yên, Tổ Nông nghiệp thị xã Vĩnh Yên, UBND xã Khai Quang đã tiến hành bàn giao mốc giới tại thực địa diện tích đất 90,06 ha tại Xã Khai Quang cho công ty TNHH Kim Long.
Ngày 08/3/1997, UBND thị xã Vĩnh Yên, UBND xã Khai Quang, Công ty TNHH Kim Long đã làm việc về nội dung đền bù cây bạch đàn chu kỳ II trên diện tích 90,6 ha đất thu hồi theo Quyết định 169/QĐUB ngày 31/01/1997 của UBND tỉnh VP.
Ngày 13/3/1997 của UBND thị xã Vĩnh Yên (nay là thành phố VY) đã ban hành Quyết định số 27/QĐ-UB về việc phê duyệt giá đền bù cây bạch đàn chu kỳ II trên diện tích 90,06 ha thu hồi tại địa điểm xã Khai Quang.
Ngày 29/8/2018, UBND tỉnh VP ban hành Quyết định số 1992/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của Công ty TNHH Kim Long do hết hạn sử dụng đất và không được gia hạn theo quy định của pháp Luật Đất đai, địa điểm tại các xã, phường: Định Trung, Liên Bảo và Khai Quang, thành phố VY.
Năm 2021, Sở Tài nguyên và Môi trường lập Mảnh trích đo địa chính số 47-2021 thu hồi đất Công ty TNHH Kim Long tại phường Khai Quang, thành phố VY, tỉnh VP (Đo đạc theo Quyết định số 1992/QĐ-UBND ngày 29/8/2018 của UBND tỉnh VP), xác định thửa đất ông Lê Duy N đang sử dụng là thửa đất số 89 diện tích 1560,1m2, loại đất: đất trồng cây lâu năm (CLN), thuộc diện tích đất UBND tỉnh VP thu hồi của Công ty TNHH Kim Long tại Quyết định số 1992/QĐ-UBND.
Về trình tự, thủ tục thiết lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính đối với ông Lê Duy N:
Ngày 22/10/2022, UBND phường Khai Quang có Biên bản làm việc về việc xác mình nguồn gốc đất, quá trình sử dụng.
Ngày 22/10/2022, UBND phường Khai Quang có thiết lập Biên bản vi phạm hành chính số 83/BB-VPHC
Ngày 23/10/2022, Chủ tịch UBND phường Khai Quang có Tờ trình số 264/TTr-UBND ngày 23/10/2022 về việc đề nghị ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Sau khi có ý kiến thẩm định của tổ thẩm định thành phố yêu cầu về làm rõ một số nội dung, ngày 25/10/2022, Chủ tịch UBND phường Khai Quang có Tờ trình số 270/TTr-UBND của UBND phường Khai Quang về việc đề nghị ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (thay thế Tờ trình số 264/TTr-UBND ngày 23/10/2022).
Ngày 27/10/2022, Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định số 3344/QĐ-XPHC về xử lý vi phạm hành chính đối với ông Lê Duy N.
Ngày 28/10/2022, UBND phường Khai Quang bàn giao Quyết định số 3344/QĐ-XPHC về xử lý vi phạm hành chính cho ông Lê Duy N.
Hết thời gian tự nguyện chấp hành theo Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 nhưng ông Lê Duy N không tự nguyện chấp hành, ngày 17/11/2022, Chủ tịch UBND phường Khai Quang có Tờ trình số 330/TTr-UBND trình Chủ tịch UBND thành phố ban hành quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Ngày 23/11/2022, Chủ tịch UBND thành phố VY ban hành Quyết định số 3634/QĐ-CCXP về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Lê Duy N.
Do sơ xuất trong quá trình soạn thảo Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 và Quyết định số 3634/QĐ-CCXP ngày 23/11/2022 đã ghi nhầm phần thẩm quyền ban hành, cụ thể: Tại phần ghi về “THẨM QUYỀN BAN HÀNH” của Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 và Quyết định số 3634/QĐ-CCXP ngày 23/11/2022 theo quy định phải ghi là “CHỦ TỊCH UBND THÀNH PHỐ VY” nhưng quyết định lại ghi là “PHÓ CHỦ TỊCH UBND THÀNH PHỐ VY”. Ngày 03/4/2023, Chủ tịch UBND thành phố VY đã ban hành Quyết định số 767/QĐ-ĐC đính chính Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 và Quyết định số 3634/QĐ- CCXP ngày 23/11/2022 và giao Quyết định số 767/QĐ-ĐC ngày 03/4/2023 cho ông Lê Duy N.
Quan điểm của Uỷ ban nhân dân phường Khai Quang:
Việc thiết lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính đối với ông Lê Duy N là đảm bảo căn cứ, cơ sở pháp lý, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh VP xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2023/HC-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh VP, đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Duy N về việc đề nghị:
- Hủy Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố VY về việc xử phạt vi phạm hành chính;
- Hủy Quyết định số 3634/QĐ-CCXP ngày 23/11/2022 của Chủ tịch UBND thành phố VY về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả;
- Hủy Quyết định số 450/QĐ-UBND ngày 27/02/2023 của Chủ tịch UBND thành phố VY về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Duy N ở phường Khai Quang, thành phố VY;
- Hủy quyết định số 1285/QĐ-UBND ngày 09/6/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh VP về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Duy N ở tổ dân phố Trại Giao, phường Khai Quang, thành phố VY.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/01/2024, ông Lê Duy N và bà Nguyễn Thị Tỉnh có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện là ông Lê Duy N và người đại diện theo ủy quyền trình bày nội dung kháng cáo. Cụ thể: Tháng 9 năm 2020 vợ chồng ông Nguyên có xác lập hợp đồng đặt cọc để mua thửa đất của vợ chồng ông Phạm Gia Diện, bà Hoàng Thị Tý; diện tích đất khoảng 1.400m2 ở khu Đồng Hoản, tổ dân phố Trại Giao, phường Khai Quang, thành phố VY. Trên thửa đất có 01 căn nhà cấp 4 xây dựng vào năm 1991, 01 căn nhà cấp 4 và công trình phụ khép kín xây dựng năm 2018, tường rào xung quanh nhà và 50 cây mít có tuổi đời trên 20 năm và các cây ăn quả khác; từ khi nhận đất gia đình ông Nguyên không xây dựng gì thêm. Tại hợp đồng đặt cọc ghi rõ khi nào gia đình bà Tý có sổ đỏ thì hai bên mới mới ký hợp đồng mua bán chính thức. Như vậy gia đình ông Nguyên không có hành vi vi phạm lấn chiếm đất, không phải là người xây dựng công trình trên đất; nhưng năm 2022 Ủy ban nhân dân phường Khai Quang đã lập biên bản vi phạm hành chính và sau đó UBND thành phố VY đã ra quyết định xử lý vi phạm đối với gia đình ông Nguyên là không đúng đối tượng vi phạm. Thực tế đối với diện tích đất ông Nguyên đã đặt cọc có nguồn gốc do gia đình cụ Gừng khai hoang sử dụng từ những năm 1980 sau đó đến 1983 đã chia cho 05 người con trong đó có bà Tý và chồng là ông Diện; ông Diện, bà Tý đã làm nhà trên đất đó từ trước năm 1990, trên đất có nhiều cây Mít đã 30 năm tuổi. Vì vậy thực tế đây là chứng cứ về việc Công ty Kim Long không hề được giao phần đất do gia đình cụ Gừng khai phá và chia cho bà Tý, ông Diện. Công ty Kim Long không hề quản lý hay sử dụng phần đất này như quan điểm của UBND thành phố VY; khi UBND thị xã Vĩnh Yên thực hiện quyết định của UBND tỉnh VP về việc giao đất cho Công ty Kim Long để trồng mía thì không thu hồi đất của gia đình bà Tý, khi giao đất không có ranh giới, mốc giới và đất giao không liên quan đến phần đất gia đình bà Tý ông Diện đã làm nhà và hiện đang do gia đình ông Nguyên đang quản lý. Năm 2018 khi thu hồi đất của Công ty Kim Long do hết thời hạn giao đất thì UBND thành phố VY và UBND tỉnh VP đã lập đoàn thanh tra; tại Kết luận thanh tra số 39 của Thanh tra nhà nước tỉnh VP đã có kết luận các hộ dân vi phạm lấn chiến đất đã giao cho Công ty Kim Long nhưng trong đó không hề có tên gia đình ông Diện, bà Tý nên không có việc đất của gia đình bà Tý nằm trong phần đất đã giao cho công ty và gia đình bà Tý lấn chiếm. Trong các Bản án cũng của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xét xử đối với hơn một chục vụ án liên quan đến đất giao cho Công ty Kim Long thì đã có 02 Bản án phúc thẩm xử đầu tháng 7/2024 đã hủy Bản án sơ thẩm để xác minh làm rõ lại các diện tích đất này có nằm trong đất giao cho công ty từ 1997 hay không. Việc gia đình ông Diện sử dụng đất, làm nhà, trồng cây lâu năm trên đất đó chưa hề bị xử lý. Việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh VP tiến hành lập “mảnh trích đo 47-2021” không đúng kế hoạch số 2958 của Sở Tài nguyên và Môi trường, không có biên bản cụ thể, không có chữ ký của các hộ giáp ranh; căn cứ vào các bản đồ hàng không chụp khi không có dấu của cơ quan có thẩm quyền để lập mảnh trích đo xác định mốc giới đất trước giao cho Công ty Kim Long là chưa có căn cứ. Do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm đã bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của ông Nguyên là chưa có căn cứ. Đề nghị hủy Bản án sơ thẩm, giải quyết lại để làm rõ nguồn gốc đất của gia đình ông Diện cũng như ranh giới đất giao cho Công ty Kim long theo quyết định của UBND tỉnh VP từ năm 1997 như đã nêu.
Người bị kiện: vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại cấp sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh VP có cử đại diện đơn vị xác lập bản đồ thửa đất tham gia phiên tòa nêu căn cứ khoa học về việc lập bản đồ mảnh trích đo 47-2021; nêu các bản đồ tham khảo hiện đang lưu trữ đúng theo quy định để làm căn cứ lập mảnh trích đo 47-2021; xác định việc lập bản đồ địa chính, ranh giới khu đất thu hồi của Công ty Kim Long đều đúng theo quy định và đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm; Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Đơn kháng cáo của người khởi kiện trong hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
- Về nội dung: Theo Điều 101 Luật Đất đai 2013, gia đình ông Nguyên phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về việc sử dụng đất ổn định, đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên ông Nguyên cũng không có các tài liệu này, do đó gia đình ông Nguyên sử dụng đất là không hợp pháp. Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định nguồn gốc đất ban đầu do UBND xã Khai Quang (nay là phường Khai Quang) quản lý, được Nhà nước thu hồi và đền bù tài sản trên đất cho Hợp tác xã nông nghiệp Khai Quang để giao cho Công ty TNHH Kim Long thực hiện dự án trồng mía. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, ông Lê Duy N và bà Nguyễn Thị Tỉnh không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ gì mới chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp. Việc xử lý vi phạm hành chính đối với gia đình ông Nguyên là có căn cứ, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyên không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, bác toàn bộ nội dung kháng cáo của ông Lê Duy N và bà Nguyễn Thị Tỉnh, giữ nguyên các quyết định của Bản án sơ thẩm số 41/2023/HC-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh VP.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Duy N và bà Nguyễn Thị Tỉnh được nộp trong thời hạn quy định của pháp luật nên đủ điều kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố VY và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh VP có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Kim Long vắng mặt, Ủy ban nhân dân phường Khai Quang có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Việc triệu tập đã được tống đạt hợp lệ, vì vậy tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu và thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính, xác định tư cách người tham gia tố tụng đều đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ; về trình tự, thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính bị khởi kiện cũng đã được xác định nay nội dung này không có kháng cáo nên không xét.
Về nội dung xét kháng cáo của ông Lê Duy N và bà Nguyễn Thị Tỉnh:
Tại phiên tòa, ông Nguyên và người được ủy quyền cho rằng việc tháng 9 năm 2020 vợ chồng ông Nguyên mới chỉ xác lập hợp đồng đặt cọc để mua nhà và tài sản trên thửa đất của vợ chồng ông Phạm Gia Diện, bà Hoàng Thị Tý; diện tích đất này do cụ Gừng là bố bà Tý khai hoang từ những năm 1980 sau đó đến 1983 mới chia cho vợ chồng bà Tý; Quá trình sử dụng đất, vợ chồng bà Tý đã xây dựng 01 căn nhà cấp 4 xây dựng vào năm 1991, 01 căn nhà cấp 4 và công trình phụ khép kín xây dựng năm 2018, tường rào xung quanh nhà và 50 cây mít có tuổi đời trên 20 năm và nhiều cây ăn quả khác; từ khi nhận đất gia đình ông Nguyên không xây dựng gì thêm. Tại hợp đồng đặt cọc ghi rõ khi nào gia đình bà Tý có sổ đỏ thì hai mới mới ký hợp đồng mua bán chính thức. Như vậy gia đình ông Nguyên không có hành vi vi phạm lấn chiếm đất, không phải là người xây dựng công trình trên đất; nhưng năm 2022 Ủy ban nhân dân phường Khai Quang đã lập biên bản vi phạm hành chính và sau đó UBND thành phố VY đã ra quyết định xử lý vi phạm đối với gia đình ông Nguyên là không đúng đối tượng vi phạm. Thực tế đối với diện tích đất có nguồn gốc do gia đình cụ Gừng khai hoang sử dụng từ những năm 1980 sau đó đến 1983 đã chia cho 05 người con sử dụng, xây dựng công trình đều không hề bị chính quyền xử lý bất cứ vi phạm nào. Do đó có căn cứ xác định việc Công ty Kim Long không hề được giao phần đất mà gia đình cụ Gừng khai phá và chia cho bà Tý, ông Diện. Công ty Kim Long không hề quản lý hay sử dụng phần đất này như quan điểm của UBND thành phố VY; khi UBND thị xã Vĩnh Yên thực hiện quyết định của UBND tỉnh VP về việc giao đất cho Công ty Kim Long để trồng mía thì không thu hồi đất của gia đình bà Tý, khi giao đất không có ranh giới, mốc giới và đất giao không liên quan đến phần đất gia đình bà Tý ông Diện đã làm nhà và hiện đang do gia đình ông Nguyên đang quản lý. Năm 2018 khi thu hồi đất của Công ty Kim Long do hết thời hạn giao đất thì UBND thành phố VY và UBND tỉnh VP đã lập đoàn thanh tra; tại Kết luận thanh tra số 39 của Thanh tra nhà nước tỉnh VP đã có kết luận các hộ dân vi phạm lấn chiến đất đã giao cho Công ty Kim Long nhưng trong đó không hề có tên gia đình ông Diện, bà Tý nên không có việc đất của gia đình bà Tý nằm trong phần đất đã giao cho công ty và gia đình bà Tý lấn chiếm. Trong các Bản án cũng của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xét xử đối với hơn một chục vụ án liên quan đến đất giao cho Công ty Kim Long thì đã có 02 Bản án phúc thẩm xử đầu tháng 7/2024 đã hủy Bản án sơ thẩm để xác minh làm rõ lại các diện tích đất này có nằm trong đất giao cho công ty từ 1997 hay không. Việc gia đình ông Diện sử dụng đất, làm nhà, trồng cây lâu năm trên đất đó chưa hề bị xử lý. Việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh VP tiến hành lập “mảnh trích đo 47-2021” không đúng kế hoạch số 2958 của Sở Tài nguyên và Môi trường, không có biên bản cụ thể, không có chữ ký của các hộ giáp ranh; căn cứ vào các bản đồ hàng không chụp khi không có dấu của cơ quan có thẩm quyền để lập mảnh trích đo xác định mốc giới đất trước giao cho Công ty Kim Long là chưa có căn cứ. Do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm đã bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của ông Nguyên là chưa có căn cứ. Đề nghị hủy Bản án sơ thẩm giao giải quyết lại để làm rõ nguồn gốc đất của gia đình ông Diện cũng như ranh giới đất giao cho Công ty Kim Long theo quyết định của UBND tỉnh VP từ năm 1997 như đã nêu.
Xét thấy:
- Tại phiên tòa, ông Lê Duy N xác nhận việc từ khi ký hợp đồng đặt cọc như đã nêu thì ông là người đang quản lý đất và các tài sản trên đất như Biên bản vi phạm hành chính đã lập ngày 22/10/2022. Tại phiên tòa, ông Nguyên và người đại diện đều thừa nhận gia đình bà Tý, ông Diện cũng như cụ Gừng chưa bao giờ kê khai hoặc đứng tên trên bất cứ loại giấy tờ gì đối với nhà, tài sản trên đất cũng như diện tích đất đó. Cũng tại phiên tòa, đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh VP có mặt đã nêu căn cứ để thiết lập “mảnh trích đo 47-2021” theo đó xác định thửa đất ông Nguyên đang quản lý nằm trong diện tích đất đã được UBND tỉnh VP giao cho Công ty Kim Long thuê tại quyết định số 169/QĐUB ngày 31/01/1997 và đến 19/8/2018, UBND tỉnh VP đã thu hồi đất của Công ty TNHH Kim Long tại Quyết định số 1992/QĐ-UBND do hết thời hạn cho thuê đất.
Tại bản đồ địa chính lập năm 1986 (bản đồ 299) đo thực trạng sử dụng đất hiện đang lưu trữ theo quy định có trong hồ sơ xác định thửa đất hiện ông Nguyên đang quản lý và bị xử lý vi phạm nằm trong khu vực đất “xâm canh” do UBND xã Khai Quang thời điểm đó quản lý; không có thửa đất nào đã được cụ Gừng hoặc vợ chồng bà Tý, ông Diện khai hoang hoặc kê khai.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ, thực tế gia đình ông Lê Duy N đang quản lý, sử dụng thửa đất số 89, diện tích 1.560,1m2 thuộc Mảnh địa chính số 47-2021. Thửa đất này có nguồn gốc do UBND xã Khai Quang (nay là phường Khai Quang) quản lý, đã được thu hồi và đền bù tài sản trên đất cho Hợp tác xã nông nghiệp Khai Quang để giao đất cho Công ty TNHH Kim Long thực hiện dự án trồng mía theo Quyết định số 169/QĐUB ngày 31/01/1997 của UBND tỉnh VP. Việc ngày 19/8/2018, UBND tỉnh Vình Phúc đã ra Quyết định số 1992/QĐ-UBND về việc thu hồi đất đã giao cho Công ty TNHH Kim Long thuê trước đây để giao cho Ban Giải phóng mặt bằng và phát triển quỹ đất tỉnh quản lý, sau đó Ban Giải phóng mặt bằng và phát triển quỹ đất tỉnh bàn giao lại cho UBpND thành phố VY quản lý theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại Quyết định số 3316/QĐ-UBND ngày 26/12/2019 là thực hiện việc quản lý đất đai của nhà nước theo thẩm quyền. Vì vậy, việc ông Lê Duy N cho rằng diện tích 1560m2 đất đang sử dụng có nguồn gốc là đất khai hoang từ năm 1982 của gia đình ông Phạm Gia Diện và bà Hoàng Thị Tý là không có căn cứ .
Như vậy, mặc dù hành vi vi phạm được phát hiện không kịp thời. Nhưng khi phát hiện vi phạm Chủ tịch UBND thành phố VY ban hành Quyết định số 3344/QĐ-XPHC ngày 27/10/2022 về xử phạt vi phạm hành chính (được đính chính tại Quyết định số 767/QĐ-ĐC ngày 03/4/2023) đối với ông Lê Duy N có hành vi vi phạm chiếm đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm) và xác định số lợi bất hợp pháp là đúng theo quy định tại điểm c, khoản 2 và khoản 5 Điều 14 và khoản 2 Điều 7 Nghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Do đó tại Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2023/HC-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh VP đã quyết định xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Duy N đối với các quyết định mà ông Nguyên khởi kiện là có căn cứ, đúng quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Duy N và bà Nguyễn Thị Tỉnh không xuất trình thêm tài liệu gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyên và bà Tỉnh, cần giữ nguyên các quyết định của Bản án sơ thẩm. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Ông Lê Duy N và bà Nguyễn Thị Tỉnh là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Bác kháng cáo của ông Lê Duy N và kháng cáo của bà Nguyễn Thị Tỉnh. Giữ nguyên các định của Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2023/HC-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh VP.
2. Về án phí: Ông Lê Duy N và bà Nguyễn Thị Tỉnh được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.