vanban.org

Bản án 46 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đinh Thị Kim H

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Kim H được ly hôn với anh Võ Quốc H. Về con chung: Giao con chung tên Võ Thị Anh T – sinh ngày 15/4/2013 cho chị Đinh Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu anh Võ Quốc Hcấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 2/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đinh Thị Kim H
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2019/HNGĐ-ST
Ngày: 27/6/2019
V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Bính

2. Bà Lê Thị Kiều Thu

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Kiểm sát viên.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Minh Khuê – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

------------------------------------------------------------

Vào lúc 14 giờ ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 162/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2019 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 171/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11/6/2019 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Kim H – sinh năm 1994.

Trú tại: Khu phố 13, Mũi Né, Phan Thiết, Bình Thuận.

- Bị đơn: Anh Võ Quốc H - sinh năm 1987.

Trú tại: Khu phố 13, Mũi Né, Phan Thiết, Bình Thuận.

Nguyên đơn chị Đinh Thị Kim H có mặt tại phiên tòa. Bị đơn anh Võ Quốc H vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Đinh Thị Kim H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Quốc H tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2012 có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mũi Né, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận vào năm 2013. Quá trình chung sống đến năm 2014 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng nên thường xảy ra gây gổ, cãi vã. Ông H nhiều lần có hành động vũ phu, đánh đập chị, đập điện thoại và hăm dọa đốt xe chị…. Mặc dù chị đã cố gắng bỏ qua nhưng anh H vẫn không thay đổi vì vậy nên từ tháng 4/2018 chị và anh H đã ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Quốc H.

- Về con chung: Chị và anh Võ Quốc H chung sống có 01 con chung tên Võ Thị Anh T– sinh ngày 15/4/2013. Nay ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về phía bị đơn anh Võ Quốc H có nơi cư trú tại khu phố 13, Mũi Né, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần đến tại nơi cư trú của anh Võ Quốc H để tống đạt giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án, anh Hoàng có nhận giấy triêu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng không chịu đến Tòa làm việc. Tuy nhiên anh H có nộp cho Tòa án bản tự khai. Tại bản tự khai anh Võ Quốc H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đinh Thị Kim H tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2012 có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mũi Né, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng không đến mức phải ly hôn. Nay chị H có đơn yêu cầu ly hôn anh không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh và chị Đinh Thị Kim H chung sống có 01 con chung tên Võ Thị Anh T – sinh ngày 15/4/2013. Con hiện nay đang ở với chị H. Do anh không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Do anh Hoàng cố tình trốn tránh không đến Tòa án theo giấy triệu tập nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Bị đơn không chấp hành pháp luật, không hợp tác, không chịu đến Tòa để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn sau khi đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ là đúng với quy định tại điểm b, khoản 02 Điều 227; khoản 03 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Dinh Thị Kim H được ly hôn với anh Võ Quốc H và chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của chị Đinh Thị Kim H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Căn cứ vào lời khai và kết quả tranh luận của các đương sự tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

1. Về thủ tục tố tụng:

Chị Đinh Thị Kim H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Võ Quốc H hiện đang cư trú tại khu phố 13, Mũi Né, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 01, Điều 35; điểm a, khỏan 01, Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Bị đơn anh Võ Quốc H đã nhiều lần được Tòa án triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Võ Quốc H không hợp tác, không đến Tòa án để giải quyết vụ việc. Như vậy, anh Võ Quốc H đã tự khước từ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng theo quy định tại điểm b, khoản 02, Điều 227; khoản 03 Điều 228 Bố luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị Kim H xin ly hôn với anh Võ Quốc H Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Đinh Thị Kim H và anh Võ Quốc H tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau năm 2012, đến năm 2013 anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mũi Né, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44 ngày 12/3/2013. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Đinh Thị Kim H và anh Võ Quốc H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Chị Đinh Thị Kim H xin ly hôn với anh Võ Quốc H và cho rằng quá trình chung sống chị và anh H phát sinh mâu thuẫn do chị và anh H bất đồng quan điểm nên thường xảy ra gây gổ, cãi vã. Anh H nhiều lần có hành động vũ phu đánh đập chị, thậm chí tìm đến nhà mẹ ruột chị hăm dọa đốt xe của chị, đập điện thoại chị…. Mâu thuẫn vợ chồng đã diễn ra nhiều năm nay, dù đã nhiều lần chị cố gắng bỏ qua để vợ chồng cùng chung sống nuôi dạy con cái nên người nhưng anh Hoàng vẫn không thay đổi, vì vậy vợ chồng đã ly thân hơn 01 năm nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Qúa trình thụ lý giải quyết vụ án, nhiều lần Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng yêu cầu anh Võ Quốc H đến Tòa để trình bày ý kiến và tham gia phiên hòa giải để hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị H, nhưng anh Hoàng tự khước từ quyền tham gia tố tụng của mình, đã không đến Tòa mặc dù có ý kiến là vợ chồng có mâu thẫn nhưng không đến mức phải ly hôn. Anh H không đồng ý ly hôn với chị H nhưng việc anh H không chịu đến Tòa để giải quyết vụ án cho thấy anh H không có thiện chí, mong muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H, để mặc cho hậu quả xảy ra. Đồng thời tại biên bản xác minh ngày 19/4/2019 chính quyền địa phương nơi anh H và chị H sinh sống cũng cho biết là khoảng 2 năm trở lại đây chị H và anh H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh Hg thường xuyên có bạo lực với chị H. Nhiều lần chính quyền địa phương cũng đã cố gắng hòa giải, anh H có cam kết không dùng bạo lực với chị H nữa nhưng thực tế sự việc vẫn tái diễn nên chị H đã bỏ về nhà mẹ ruột sống hơn 1 năm nay. Điều này chứng tỏ những lý do chị H đưa ra để yêu cầu ly hôn với anh H là đúng sự thật. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị Kim H.

Về con chung: Chị Đinh Thị Kim H và anh Võ Quốc H chung sống có 01 con chung tên Võ Thị Anh T – sinh ngày 15/4/2013. Nay ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu nuôi con của chị H và căn cứ vào tình hình thực tế hiện nay chị H cũng là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên yêu cầu nuôi con chung của chị H là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3.

Về án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án chị Đinh Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Với các lẽ trên,

Hội đồng xử án Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

QUYẾT ĐỊNH

1.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 01, Điều 35; điểm a, khỏan 01, Điều 39; điểm b, khoản 02, Điều 227; khoản 03, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 19; khoản 01 Điều 51; khoản 01 Điều 56; Điều 57; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

2/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đinh Thị Kim H

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Kim H được ly hôn với anh Võ Quốc H.

- Về con chung: Giao con chung tên Võ Thị Anh T – sinh ngày 15/4/2013 cho chị Đinh Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu anh Võ Quốc Hcấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Anh Võ Quốc H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung sau khi ly hôn.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

3/ Về án phí: Chị Đinh Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0024262 ngày 27 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Quyền kháng cáo bản án của nguyên đơn là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Quyền khỏng cáo bản án của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết công khai bản án Nôi nhaän:

TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ

- Caùc ñöông söï;

THAÅM PHAÙN – CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOØA

- VKS Tp. Phan Thiết;

- Thi haønh aùn daân söï Tp. Phan Thieát;

- UBND phường Mũi Né;

- Löu.

Nguyễn Thị Hồng Hạnh CAÙC HOÄI THAÅM NHAÂN DAÂN

THAÅM PHAÙN CHUÛ TOẽA PHIEÂN TOỉA NGUYEÃN THề NHệ YEÁN NGUYEÃN THEÁ QUAÛNG

PHAẽM PHONG LAN Nụi nhaọn:

TM. HOÄI ẹOÀNG XEÙT XệÛ -Caực ủửụng sửù

THAÅM PHAÙN – CHUÛ TOẽA PHIEÂN TOỉA -VKSND TP.PT

- Thi haứnh aựn daõn sửù TP. Phan Thieỏt

- UBND phửụứng Phuự Thuỷy -Lửu

PHAẽM PHONG LAN CAÙC HOÄI THAÅM NHAÂN DAÂN

THAÅM PHAÙN CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOØA NGUYEÃN THÒ NHÖ YEÁN NGUYEÃN THEÁ QUAÛNG

PHAÏM PHONG LAN Nôi nhaän:

Cỡ chữ