vanban.org

Bản án 46/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyeân boá: Bị cáo Ngô Văn K phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn K 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày 03/3/2026. Giao bị cáo K cho UBND xã Hòa N, tỉnh Lâm Đồng để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ hàng cấm ngô văn kỷ - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyeân boá: Bị cáo Ngô Văn K phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 4

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 46/2026/HSST
Ngày 03/3/2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị Thúy Thành

- Thư ký phiên tòa: bà Dư Thị Kiều Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: bà Ngô Thị Ka Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 52/2026/HSST ngày 11/02/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2026/QĐXXTS-HS ngày 24/02/2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Văn K; sinh năm 1979 tại Hà Nội;

Nơi cư trú: thôn 8, xã Hòa N, tỉnh Lâm Đồng;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam;

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 0/12;

Con ông Ngô Văn Thụ, sinh năm 1954; Con bà Nguyễn Thị Lơ, sinh năm 1952. Hiện trú tại thôn 15, xã Hòa N, tỉnh Lâm Đồng. Vợ: Nguyễn Thị Tận, sinh năm 1981. Hiện trú tại thôn 8, xã Hòa N, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có 04 người con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2016;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/01/2026 cho đến nay.

( Có mặt tại phiên tòa ).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Vũ Thị T, sinh năm 1974

Địa chỉ: thôn 4, xã Hòa N, tỉnh Lâm Đồng

(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10h20 ngày 29/12/2025 Công an xã Hòa N phát hiện Ngô Văn K cất giấu 02 (hai) hộp giấy có kích thước giống nhau (16,5 x 16,5 x 10) cm, tổng trọng lượng là 3kg tại nhà bà Vũ Thị T, sinh năm 1974, nơi cư trú: Thôn 4, xã Hòa N, tỉnh Lâm Đồng. Ngô Văn K khai nhận hai hộp giấy trên là pháo hoa nổ, ngoài ra Ngô Văn K còn khai nhận thêm ở nhà riêng tại thôn 8, xã Hòa N, tỉnh Lâm Đồng đang cất giấu 07 (bảy) hộp giấy có kích thước giống nhau (16,5 x 16,5 x 10) cm là pháo hoa nổ, có tổng trọng lượng là 11,4 kg. Công an xã Hòa N đã T giữ 09 (chín) hộp giấy có kích thước giống nhau (16,5 x 16,5 x 10) cm là pháo hoa nổ, có tổng trọng lượng là 14,4 kg. Quá trình điều tra Ngô Văn K khai nhận như sau: Vào khoảng cuối tháng 11/2025, Ngô Văn K điều khiển xe ô tô BS: 49A-058.71 đi về quê tại thành phố Hà Nội để ăn cưới thì gặp một người lạ ngồi cùng bàn, trong quá trình nói chuyện K biết người này có nguồn hàng là pháo hoa xuất xứ từ Thái Lan giá rẻ, mỗi hộp pháo có giá 350.000 đồng. Sau đó, K đã mua của người này 09 hộp giấy có kích thước 16,5x16,5x10cm, trên vỏ hộp có ghi nhiều dòng chữ nước ngoài và dòng chữ KS4-4911 BILLION TIME với tổng số tiền là 3.150.000 đồng mục đích mang về sử dụng, nếu có ai hỏi mua thì sẽ bán lại kiếm lời. Vào khoảng 10h20 ngày 29/12/2025, K điều khiển xe mô tô biển số 49M9-8568 từ nhà tại thôn 8, xã Hòa N, tỉnh Lâm Đồng mang theo một bao tải màu xanh có chiều dài 70 cm, chiều rộng 50 cm bên trong có chứa 02 hộp giấy hình chữ nhật có kích thước giống nhau (16,5cm x 16,5cm x 10cm), trên vỏ có ghi dòng chữ KS4-4911 BILILION TIME đi đến nhà chị Vũ Thị T, sinh năm 1974, nơi cư trú, thôn 4, xã Hòa N, tỉnh Lâm Đồng K nói là “cho em gửi ít đồ”, chị T không nói gì nên K mang bao tải trên bỏ vào góc cầu thang ở gần phòng ngủ của nhà chị T. Khi cất bao tải chứa hai hộp giấy xong, K đi ra ngoài thì bị Công an xã Hòa N tiến hành kiểm tra, phát hiện và T giữ bao tải chứa 02 hộp giấy trên. Công an xã Hòa N đã tiến hành lập biên bản vi phạm, quá trình làm việc với cơ quan Công an K khai nhận 02 hộp giấy mà K tàng trữ nói trên là pháo hoa nổ. Ngoài ra, quá trình làm việc K còn khai nhận còn 07 hộp giấy hình chữ nhật có kích thước giống nhau (16,5cm x 16,5cm x 10cm). K đã tự nguyện giao nộp số pháo này cho Công an xã Hòa N để xử lý theo quy định.

Tại kết luận giám định số 54 ngày 12/01/2026 của Phòng kỹ Tật hình sự công an tỉnh Lâm Đồng xác định: 441 viên bằng giấy hình trụ tròn đường kính 2,3cm cao 9,5cm chứa trong 09 khối giấy hình hộp gửi giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa Tốc pháo, khi đốt gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 14,6kg.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung quyết định truy tố.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 122/QĐ-VKSKV4 ngày 09/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng truy tố bị cáo Ngô Văn K về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn K từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã T giữ và tiêu hủy 09 hộp giấy hình chữ nhật có kích thước giống nhau (16,5cm x 16,5cm x 10cm), trọng lượng 14,4kg hoàn lại sau giám định, do vậy đề nghị không xem xét.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo Ngô Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh Lâm Đồng; Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng T giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vì mục đích mua pháo hoa để sử dụng đốt trong dịp tết Nguyên đán năm 2026, vào khoảng 10h20 ngày 29/12/2025 Công an xã Hòa N phát hiện Ngô Văn K cất giấu 02 (hai) hộp giấy có kích thước giống nhau (16,5 x 16,5 x 10) cm, tổng trọng lượng là 3kg tại nhà bà Vũ Thị T, ngoài ra Ngô Văn K còn khai nhận thêm ở nhà riêng tại thôn 8, xã Hòa N, tỉnh Lâm Đồng đang cất giấu 07 (bảy) hộp giấy có kích thước giống nhau (16,5 x 16,5 x 10) cm là pháo hoa nổ, có tổng trọng lượng là 11,4 kg. Công an xã Hòa N đã T giữ 09 (chín) hộp giấy có kích thước giống nhau (16,5 X 16,5 X 10) cm là pháo hoa nổ, có tổng trọng lượng là 14,4 kg.

Tại kết luận giám định số 54 ngày 12/01/2026 của Phòng kỹ Tật hình sự công an tỉnh Lâm Đồng xác định: 441 viên bằng giấy hình trụ tròn đường kính 2,3cm cao 9,5cm chứa trong 09 khối giấy hình hộp gửi giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa Tốc pháo, khi đốt gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 14,6kg.

Do vậy, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng truy tố bị cáo Ngô Văn K về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ pháo hoa nổ bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, do vậy cần phải xử phạt nghiêm bị cáo tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu và Tộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị xáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không vi phạm pháp luật, do đó không cần thiết xử phạt tù giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục theo qui định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 cũng đủ để răn đe giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với hành vi của bà Vũ Thị T, tại thời điểm K gửi pháo ở nhà bà T thì K không nói rõ cho bà T biết bên trong bao tải có chứa 02 hộp giấy là pháo hoa nổ. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà T về hành vi trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng thấy rằng: mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã T giữ và tiêu hủy 09 hộp giấy hình chữ nhật có kích thước giống nhau (16,5cm x 16,5cm x 10cm), trọng lượng 14,4kg hoàn lại sau giám định, do vậy không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Ngô Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyeân boá: Bị cáo Ngô Văn K phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn K 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày 03/3/2026.

Giao bị cáo K cho UBND xã Hòa N, tỉnh Lâm Đồng để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo qui định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung bị cáo Ngô Văn K 10.000.000 (mười triệu) đồng

2. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban T vụ Quốc hội qui định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngô Văn K phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 03/3/2026 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan ).

“Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”.

Cỡ chữ