vanban.org

Bản án 46/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc D phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

Xử phạt bị cáo Phạm Quốc D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc D - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc D phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2026/ HS-ST
Ngày 27-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Trạng;

2. Ông Bùi Minh Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Lam Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2026/TLST-HS, ngày 04 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2026/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:

Phạm Quốc D, sinh ngày 27/10/1993, tại Đồng Tháp; giới tính: Nam; căn cước công dân số: 087093013367; nơi cư trú: ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: 11/12, nghề nghiệp: Tài xế; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn N, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1973; vợ: Tô Thị H1, sinh năm 1995 (đã ly hôn); con: có 02 người con, lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019; tiền sự, tiền án: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú trong vụ án khác (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1979 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp L, xã L, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

1. Tô Thị H1, sinh năm 1995 (vắng mặt);

2. Hồ Thị K, sinh năm 1971 (vắng mặt);

3. Tô Văn T1, sinh năm 1998 (vắng mặt);

4. Tô Văn H2, sinh năm 1988 (vắng mặt);

5. Tô Văn N1, sinh năm 1973 (vắng mặt);

6. Tô Văn N2, sinh năm 1989 (vắng mặt);

Cùng nơi cư trú: Khóm C, phường T, tỉnh Đồng Tháp.

7. Đoàn Văn Đ, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Khóm B, phường T, tỉnh An Giang.

8. Đoàn Văn Đ1, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm T, phường H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 12/2024, Phạm Quốc D sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone X, tài khoản Facebook tên “Phạm Doanh” truy cập mạng xã hội Facebook đặt mua 01 khẩu súng ngắn dạng ổ quay với giá 2.900.000 đồng, kèm theo 06 viên đạn; hai bên thống nhất hình thức giao súng qua dịch vụ giao hàng nhanh, D nhận súng sẽ thanh toán tiền, sau đó D nhờ ông Nguyễn Hoàng T (cửa hàng mua bán điện thoại của ông T còn có cung cấp dịch vụ chuyển tiền nhanh thu hộ qua hệ thống ngân hàng TMCP Q (M) chuyển trước số tiền đặt cọc 500.000 đồng, D không nói ông T biết nội dung chuyển để mua súng. Khoảng 05 đến 06 ngày sau, D được người giao hàng (không xác định họ tên địa chỉ) giao một hộp giấy bọc ni-long bên ngoài, dán băng keo màu vàng, có ghi chữ “hàng dễ vỡ”. Doanh mở kiểm tra xác định bên trong có 01 khẩu súng ngắn dạng ổ quay và 06 viên đạn đúng như đã thỏa thuận nên D trả cho người giao hàng thêm số tiền 2.400.000 đồng bằng tiền mặt. Sau đó, D mang khẩu súng và 06 viên đạn đến khu vực chân trụ điện cao thế thuộc khóm S, phường T, tỉnh Đồng Tháp cất giấu. Đến tháng khoảng 01/2025, D quay lại nơi cất giấu khẩu súng lấy lên lắp 06 viên đạn vào ổ quay, mỗi lỗ lắp 01 viên, cầm khẩu súng hướng lên trời bóp cò, nghe 01 tiếng nổ lớn và ngửi thấy mùi thuốc pháo nên xác định khẩu súng này bắn được. Sau đó, D không tháo đạn ra mà cho khẩu súng và đạn vào túi ni-long, tiếp tục cất giấu tại vị trí cũ.

Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/4/2025, D được bà Hồ Thị Kiều N3 khóm C, phường T, tỉnh Đồng Tháp (mẹ vợ D) mời đến nhà dự tiệc, trong lúc dự tiệc giữa D và chị Tô Thị H1 (vợ D đã ly hôn) phát sinh mâu thuẫn cự cải với Tô Văn N2 (là anh vợ của D) thì được những người có mặt can ngăn nên D bỏ về. Do bực tức, D đến khu vực nhà bếp, chỗ đựng dụng cụ chén dĩa, lấy 01 con dao Thái Lan giấu trong người, phía sau lưng quần. D tiếp tục đi đến lấy khẩu súng đã cất giấu trước đó, kiểm tra trong ổ quay có 05 viên đạn và 01 vỏ đạn cất giấu trong người rồi điều khiển xe mô tô đến nhà bà K. Khi D đến trước nhà bà K, lấy khẩu súng ra cầm trên tay phải, dùng tay trái kéo búa súng thả ra, không bóp cò làm phát ra tiếng “tách, tách” nhằm mục đích hù dọa cho những người trong nhà sợ thì được những người có mặt ở đây phát hiện can ngăn, trong lúc giằng co làm khẩu súng rơi xuống đất anh Tô Văn H2 lấy khẩu súng ném vào nhà dân gần đó làm khẩu súng vỡ ra thành nhiều mảnh. Doanh tiếp tục lấy con dao mang theo trong người ra cầm trên tay phải quơ quơ về phía những người xung quanh và vung dao lên khoảng không trước mặt 2-3 lần, tuy nhiên những người có mặt tại hiện trường khống chế tước đoạt con dao, D ra xe chạy về nhà. Bà Hồ Thị K đến Công an phường T trình báo sự việc.

Quá trình điều tra, Phạm Quốc D nhận dạng nhận các bộ phận, linh kiện thu giữ tại hiện trường là của khẩu súng ngắn dạng ổ quay; số đạn, vỏ đạn và dao thu giữ là do D mang đến để giải quyết mâu thuẫn.

Tại Kết luận giám định số: 1616/KL-KTHS, ngày 29/4/2025 của P - Bộ C đã giám định súng và đạn thu giữ có kết luận như sau:

- Các mẫu vật gửi giám định là các bộ phận, linh kiện bị vỡ ra từ súng chế tạo thủ công để bắn với đạn cỡ 5,6mm x 15,5mm, thuộc vũ khí quân dụng. Hiện tại, bộ phận, linh kiện đã gãy, vỡ rời, mất các chốt liên kết nên không thể lắp ráp thành một khẩu súng hoàn chỉnh để bắn được đạn nổ, nên không còn tính năng, tác dụng của vũ khí và không phải vũ khí quân dụng.

- 04 (bốn) viên đạn và 01 (một) vỏ đạn gửi giám định là đạn, vỏ đạn của loại đạn cỡ 5,6mm x 15,5mm thuộc vũ khí quân dụng. Loại đạn này được sử dụng để bắn cho một số súng thể thao hoặc quân dụng như: Súng ám sát hình bút, K55, TOZ8…và khẩu súng bị vỡ rời gửi giám định. Sau khi giám định các vật chứng trên chuyển Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý.

Tại Kết luận giám định số: 2656/KL-KTHS, ngày 15/12/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ kết luận: 01 (một) con dao Thái Lan đã thu giữ gửi giám định thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao”, ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA, ngày 15/11/2024 của Bộ C. Con dao sau giám định đã chuyển Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Đ đang tạm quản lý.

Đối với hành vi Phạm Quốc D cầm súng và dao đến nhà bà Hồ Thị K đe dọa gây mất an ninh, trật tự, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã khởi tố vụ án số: C198/QĐ-VPCQCSĐT ngày 13/11/2025; Quyết định khởi tố bị can số C222/QĐ-VPCQCSĐT ngày 13/11/2025 đối với Phạm Quốc D về tội “Gây rối trật tự công cộng” đang trong giai đoạn điều tra xử lý.

* Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm:

- 01 (một) viên đạn cỡ 5,6mm, bằng kim loại, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu xám, đít đạn có chữ “C”, có dấu vết lõm.

- 02 (ba) viên đạn đạn cỡ 5,6mm, bằng kim loại, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu xám, đít đạn có chữ “C”.

- 01 (một) vỏ đạn cỡ 5,6mm, bằng kim loại, màu vàng, đít đạn có dấu vết lõm.

- 01 (một) ổ quay (ổ chứa đạn còn dính trục quay, bằng kim loại, màu đen, ổ quay dài 04cm, đường kính 3,9cm, bên trong có 06 lỗ, mỗi lỗ có đường kính 5,7mm đến 5,8mm.

- 01 (một) nòng súng ngắn, dính nhựa một phần thân súng bị gãy bằng kim loại và nhựa màu đen - vàng, trên nòng súng có chữ “SMITH & WESSON” có tổng chiều dài 10,5cm, rộng nhất là 06cm.

- 02 (hai) vật hình trụ tròn bằng kim loại, vật thứ nhất có chiều dài 1,5cm, đường kính 0,4cm; vật thứ hai có chiều dài 1,5cm, đường kính 0,3cm.- 02 (hai) lò xo. - 01 (một) lẫy bằng kim loại dài 03cm, rộng 0,5cm.

- 01 (một) ốp thân súng bằng nhựa màu đen, kích thước 11x9,8cm, có chữ “XIAO YUE LIANG”.

- 01 (một) búa đập và 01 (một) cò súng đều bằng kim loại màu đen.

- 01 (một) đoạn kim loại màu trắng bạc dài 5,9cm, đường kính 0,3cm.

- 01 (một) tay cầm gắn với một phần thân súng của khẩu súng ngắn bằng kim loại, nhựa màu đen, phía trên có chứa bộ phận chứa kim hỏa bằng kim loại màu trắng bạc, trên tay cầm có chữ “ZP5”.

- 01 (một) con dao có chiều dài 29,5cm, trong đó: phần lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 18cm, rộng nhất 5cm, 1 cạnh sắc, mũi nhọn (một bên bề mặt lưỡi dao có khắc chữ “PENGUN BRAND MADE IN THAILAND”); phần tay cầm bằng gỗ, dài 11,5cm, rộng nhất 3cm. Riêng 01 viên đạn bị thất lạc đã tổ chức truy tìm nhưng mất không tìm được. Đối với chiếc điện thoại di dộng Iphone X mà bị cáo sử dụng để liên hệ mua súng, do đã bị hư hỏng và bán phế liệu nên không thể thu hồi được để trích xuất dữ liệu truy tìm nguồn gốc người bán vũ khí quân dụng.

Trong quá trình điều tra, Phạm Quốc D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKSĐT- P1, ngày 02 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Phạm Quốc D về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Phạm Quốc D đã phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khỏan 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố Phạm Quốc D về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Quốc D mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề nghiệp là tài xế xe, thu nhập không ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi Phạm Quốc D cầm súng và dao đến nhà bà Hồ Thị K đe dọa gây mất an ninh, trật tự, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã khởi tố vụ án số: C198/QĐ-VPCQCSĐT ngày 13/11/2025; Quyết định khởi tố bị can số: C222/QĐ-VPCQCSĐT ngày 13/11/2025 đối với Phạm Quốc D về tội “Gây rối trật tự công cộng” đang trong giai đoạn điều tra xử lý nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý trong vụ án này.

Đối với người bán súng và đạn cho Phạm Quốc D, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đối với ông Nguyễn Hoàng T lúc Phạm Quốc D nhờ chuyển trước số tiền đặt cọc 500.000 đồng, ông T không biết việc D chuyển tiền để mua súng, nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông T.

* Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) viên đạn cỡ 5,6mm, bằng kim loại, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu xám, đít đạn có chữ “C”, có dấu vết lõm.

- 02 (ba) viên đạn đạn cỡ 5,6mm, bằng kim loại, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu xám, đít đạn có chữ “C”.

- 01 (một) vỏ đạn cỡ 5,6mm, bằng kim loại, màu vàng, đít đạn có dấu vết lõm.

- 01 (một) ổ quay (ổ chứa đạn còn dính trục quay, bằng kim loại, màu đen, ổ quay dài 04cm, đường kính 3,9cm, bên trong có 06 lỗ, mỗi lỗ có đường kính 5,7mm đến 5,8mm.

- 01 (một) nòng súng ngắn, dính nhựa một phần thân súng bị gãy bằng kim loại và nhựa màu đen - vàng, trên nòng súng có chữ “SMITH & WESSON” có tổng chiều dài 10,5cm, rộng nhất là 06cm.

- 02 (hai) vật hình trụ tròn bằng kim loại, vật thứ nhất có chiều dài 1,5cm, đường kính 0,4cm; vật thứ hai có chiều dài 1,5cm, đường kính 0,3cm.- 02 (hai) lò xo. - 01 (một) lẫy bằng kim loại dài 03cm, rộng 0,5cm.

- 01 (một) ốp thân súng bằng nhựa màu đen, kích thước 11x9,8cm, có chữ “XIAO YUE LIANG”.

- 01 (một) búa đập và 01 (một) cò súng đều bằng kim loại màu đen.

- 01 (một) đoạn kim loại màu trắng bạc dài 5,9cm, đường kính 0,3cm.

- 01 (một) tay cầm gắn với một phần thân súng của khẩu súng ngắn bằng kim loại, nhựa màu đen, phía trên có chứa bộ phận chứa kim hỏa bằng kim loại màu trắng bạc, trên tay cầm có chữ “ZP5”.

- 01 (một) con dao có chiều dài 29,5cm, trong đó: phần lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 18cm, rộng nhất 5cm, 1 cạnh sắc, mũi nhọn (một bên bề mặt lưỡi dao có khắc chữ “PENGUN BRAND MADE IN THAILAND”); phần tay cầm bằng gỗ, dài 11,5cm, rộng nhất 3cm.

Riêng 01 viên đạn bị thất lạc đã tổ chức truy tìm nhưng mất không tìm được và chiếc điện thoại di dộng Iphone X mà bị cáo sử dụng để liên hệ mua súng, do đã bị hư hỏng và bán phế liệu nên không thể thu hồi được nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Quốc D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp vơi lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và những người tiến hành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Quốc D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, nhưng bị cáo vẫn thực hiện.

Cụ thể, vào khoảng tháng 12/2024, Phạm Quốc D lên mạng Facebook đặt mua 01 khẩu súng ngắn loại ổ quay kèm 06 viên đạn với giá 2.900.000đồng, nhận được súng và đạn D mang về cất giấu, sau đó D đến lấy khẩu súng ra lắp đạn bắn thử nổ 01 viên đạn và cất giấu trở lại vị trí cũ. Đến khoảng 19 giờ ngày 13/4/2025, D đến nhà bà Hồ Thị K thuộc khóm C, phường T, tỉnh Đồng Tháp dự tiệc thì xảy ra mâu thuẫn nên D về lấy 01 con dao mũi nhọn, bề mặt lưỡi dao có khắc chữ “PENGUN BRAND MADE IN THAILAND” và lấy khẩu súng cùng 05 viên đạn cất giấu trước đó đi đến trước nhà bà K, lấy khẩu súng ra cầm trên tay phải và dùng tay trái kéo búa súng tạo ra tiếng tách tách nhằm hù dọa những người trong nhà bà K, thì mọi người can ngăn, giật lấy khẩu súng ném gần đó làm khẩu súng vỡ ra thành nhiều mảnh. Doanh tiếp tục lấy con dao mang theo trong người ra cầm trên tay phải quơ quơ thì được những người có mặt tại hiện trường tước đoạt con dao.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 1616/KL-KTHS, ngày 29/4/2025 của Phân viện Khoa học hình sự - Bộ C và Bản kết luận giám định số 2656/KL-KTHS, ngày 15/12/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ kết luận: khẩu súng và đạn trên thuộc danh mục vũ khí quân dụng, con dao thuộc danh mục dao có tính sát thương cao.

Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Phạm Quốc D đã phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Điều 304. Tội tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.

“1. Người nào tàng trữ, sử dụng trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

2 ...;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.”

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, phương tiện, kỹ thuật quân sự của Nhà nước, gây ảnh đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền sự, tiền án.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo thuộc diện gia đình có công cách mạng (bị cáo trước đây là tiểu đội trưởng Dân quân tại chỗ, ấp A, trực thuộc Ban Chỉ huy quân sự xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; có ông nội là dân công hoả tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế), Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa.

-Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

Đối với hành vi Phạm Quốc D cầm súng và dao đến nhà bà Hồ Thị K đe dọa gây mất an ninh, trật tự, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã khởi tố vụ án số: C198/QĐ-VPCQCSĐT ngày 13/11/2025; Quyết định khởi tố bị can số: C222/QĐ-VPCQCSĐT ngày 13/11/2025 đối với Phạm Quốc D về tội “Gây rối trật tự công cộng” đang trong giai đoạn điều tra xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý trong vụ án này.

Đối với người bán súng và đạn cho Phạm Quốc D Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý trong vụ án này.

Đối với ông Nguyễn Hoàng T lúc Phạm Quốc D nhờ chuyển trước số tiền đặt cọc 500.000 đồng, ông không biết việc D chuyển tiền để mua súng, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông T.

Về vật chứng vụ án:

Đối với: 01 (một) viên đạn cỡ 5,6mm, bằng kim loại, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu xám, đít đạn có chữ “C”, có dấu vết lõm; 02 (ba) viên đạn đạn cỡ 5,6mm, bằng kim loại, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu xám, đít đạn có chữ “C”; 01 (một) vỏ đạn cỡ 5,6mm, bằng kim loại, màu vàng, đít đạn có dấu vết lõm; 01 (một) ổ quay (ổ chứa đạn còn dính trục quay, bằng kim loại, màu đen, ổ quay dài 04cm, đường kính 3,9cm, bên trong có 06 lỗ, mỗi lỗ có đường kính 5,7mm đến 5,8mm; 01 (một) nòng súng ngắn, dính nhựa một phần thân súng bị gãy bằng kim loại và nhựa màu đen - vàng, trên nòng súng có chữ “SMITH & WESSON” có tổng chiều dài 10,5cm, rộng nhất là 06cm; 02 (hai) vật hình trụ tròn bằng kim loại, vật thứ nhất có chiều dài 1,5cm, đường kính 0,4cm; vật thứ hai có chiều dài 1,5cm, đường kính 0,3cm.- 02 (hai) lò xo. - 01 (một) lẫy bằng kim loại dài 03cm, rộng 0,5cm; 01 (một) ốp thân súng bằng nhựa màu đen, kích thước 11x9,8cm, có chữ “XIAO YUE LIANG”; 01 (một) búa đập và 01 (một) cò súng đều bằng kim loại màu đen; 01 (một) đoạn kim loại màu trắng bạc dài 5,9cm, đường kính 0,3cm; 01 (một) tay cầm gắn với một phần thân súng của khẩu súng ngắn bằng kim loại, nhựa màu đen, phía trên có chứa bộ phận chứa kim hỏa bằng kim loại màu trắng bạc, trên tay cầm có chữ “ZP5”; 01 (một) con dao có chiều dài 29,5cm, trong đó: Phần lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 18cm, rộng nhất 5cm, 1 cạnh sắc, mũi nhọn (một bên bề mặt lưỡi dao có khắc chữ “PENGUN BRAND MADE IN THAILAND”); phần tay cầm bằng gỗ, dài 11,5cm, rộng nhất 3cm liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp pháp luật.

Riêng 01 viên đạn bị thất lạc đã tổ chức truy tìm nhưng mất không tìm được và chiếc điện thoại di dộng Iphone X mà bị cáo sử dụng để liên hệ mua súng, do đã bị hư hỏng và bán phế liệu nên không thể thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề nghiệp là tài xế xe, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc D phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

Xử phạt bị cáo Phạm Quốc D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) viên đạn cỡ 5,6mm, bằng kim loại, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu xám, đít đạn có chữ “C”, có dấu vết lõm; 02 (ba) viên đạn đạn cỡ 5,6mm, bằng kim loại, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu xám, đít đạn có chữ “C”; 01 (một) vỏ đạn cỡ 5,6mm, bằng kim loại, màu vàng, đít đạn có dấu vết lõm; 01 (một) ổ quay (ổ chứa đạn còn dính trục quay, bằng kim loại, màu đen, ổ quay dài 04cm, đường kính 3,9cm, bên trong có 06 lỗ, mỗi lỗ có đường kính 5,7mm đến 5,8mm; 01 (một) nòng súng ngắn, dính nhựa một phần thân súng bị gãy bằng kim loại và nhựa màu đen - vàng, trên nòng súng có chữ “SMITH & WESSON” có tổng chiều dài 10,5cm, rộng nhất là 06cm; 02 (hai) vật hình trụ tròn bằng kim loại, vật thứ nhất có chiều dài 1,5cm, đường kính 0,4cm; vật thứ hai có chiều dài 1,5cm, đường kính 0,3cm.- 02 (hai) lò xo. - 01 (một) lẫy bằng kim loại dài 03cm, rộng 0,5cm; 01 (một) ốp thân súng bằng nhựa màu đen, kích thước 11x9,8cm, có chữ “XIAO YUE LIANG”; 01 (một) búa đập và 01 (một) cò súng đều bằng kim loại màu đen; 01 (một) đoạn kim loại màu trắng bạc dài 5,9cm, đường kính 0,3cm; 01 (một) tay cầm gắn với một phần thân súng của khẩu súng ngắn bằng kim loại, nhựa màu đen, phía trên có chứa bộ phận chứa kim hỏa bằng kim loại màu trắng bạc, trên tay cầm có chữ “ZP5”. Các vật chứng trên hiện Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đ đang quản lý (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2025).

- 01 (một) con dao có chiều dài 29,5cm, trong đó: phần lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 18cm, rộng nhất 5cm, 1 cạnh sắc, mũi nhọn (một bên bề mặt lưỡi dao có khắc chữ “PENGUN BRAND MADE IN THAILAND”); phần tay cầm bằng gỗ, dài 11,5cm, rộng nhất 3cm. Mẫu vật được để trong túi niêm phong ký hiệu: PS2, mã số: PS2-24111303 được dán kín lại, còn nguyên vẹn, bên ngoài có đóng dấu niêm phong hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ và có các chữ ký họ tên Nguyễn Thị Ngọc H3 và Trần Văn T2, hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Đồng Tháp đang quản lý (theo Biên bản giao nhận ngày 05/3/2026).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Quốc D phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/3/2026). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ