vanban.org

Bản án 46/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lương Thị Đài T được ly hôn với anh Đỗ Hải T1.

Về con chung: Giao chị Lương Thị Đài T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Lương Quốc T2, sinh ngày 12/12/2012 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Đỗ Hải T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Việc cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con Lương Thị Đài T và Đỗ Hãi T1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lương Thị Đài T được ly hôn với anh Đỗ Hải T1.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 13-02-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đàm Thị Thanh Loan

Ông Võ Văn Thỏ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.

Ngày 13 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 309/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lương Thị Đài T, sinh ngày 02/3/1989 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

CCCD số: xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 18/11/2021.

Địa chỉ: Khóm C, phường N, thành phố Cần Thơ.

Hiện tạm trú tại: Nhà T, ấp A, xã A, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Đỗ Hải T1, sinh ngày 01/01/1988 (vắng mặt).

CCCD số: xxxxxxxxxxxx ngày cấp 09/8/2021.

Địa chỉ: Khóm C, phường N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 12/9/2025, nguyên đơn chị Lương Thị Đài T trình bày:

Chị Lương Thị Đài T và anh Đỗ Hải T1 đăng ký kết hôn ngày 05/3/2012 tại UBND phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là UBND phường N, thành phố Cần Thơ). Trong thời kỳ hôn nhân vì bất đồng tính cách, quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, vợ chồng cùng ngồi lại với nhau nói chuyện giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Tình trạng kéo dài khiến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, đời sống hôn nhân rơi vào bế tắc, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Hải T1. Vợ chồng có 01 con chung tên Đỗ Lương Quốc T2, sinh ngày 12/12/2012, nay chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng tự thỏa thuận. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết.

- Bị đơn anh Đỗ Hải T1 vắng mặt, không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lương Thị Đài T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đỗ Hải T1 vắng mặt không lý do, phiên toà đã mở lần hai, căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy trích lục kết hôn số 39/YLKH-BS ngày 29/3/2024 của Ủy ban nhân dân phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là UBND phường N, thành phố Cần Thơ) thể hiện, vào ngày 05/3/2012 chị Lương Thị Đài T và anh Đỗ Hải T1 có đăng ký kết hôn với nhau, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, do vậy hôn nhân này là hợp pháp. Theo nguyên đơn chị T trình bày quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Toà án đã tiến hành tổ chức hòa giải nhiều lần nhưng anh T1 không tham gia nên không tiến hành hoà giải được, anh T1 biết được thông tin chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nhưng không phản hồi ý kiến cho Toà án. Điều này chứng tỏ anh T1 không có nguyện vọng hoặc mong muốn được hàn gắn với chị T. Việc nam nữ đăng ký kết hôn với nhau xuất phát từ mong muốn tìm kiếm hạnh phúc trong cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, nếu hôn nhân không như mong muốn, không còn hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng thì ly hôn chính là giải pháp cho cả hai, nên không thể bắt buộc chị T phải tiếp tục chung sống với anh T1 nếu như chị không còn tình cảm và thực tế hiện nay vợ chồng đã không còn chung sống với nhau là vi phạm tình nghĩa vợ chồng được luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, giải quyết cho chị T được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Chị T trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Đỗ Lương Quốc T2, sinh ngày 12/12/2012, hiện con đang sống cùng mẹ. Chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Anh T1 không phản hồi ý kiến cho Tòa án về quyền nuôi con. Xét thấy, chị T và anh T1 không thỏa thuận được việc ai là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cháu T2 hiện đang sống ổn định cùng mẹ là chị T và có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi”. Từ quy định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao con chung là cháu Đỗ Lương Quốc T2 cho chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi (thành niên). Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Việc cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Chị Lương Thị Đài T phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp, chị T đã nộp xong án phí.

Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lương Thị Đài T được ly hôn với anh Đỗ Hải T1.

2. Về con chung: Giao chị Lương Thị Đài T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Lương Quốc T2, sinh ngày 12/12/2012 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Đỗ Hải T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Việc cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Án phí sơ thẩm: Chị Lương Thị Đài T có nghĩa vụ nộp án phí số tiền 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0007377 ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, chị T đã nộp xong án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ