- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - La Trọng V"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn anh La Trọng V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2026/HNGĐ-ST Ngày: 28-4-2026 V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Anh Đào
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Kiều Vũ
2. Ông Nguyễn Sơn Thạch
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đức Định – Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hà Chí Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 173/2025/TLST – HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2025 về việc: “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2026 và Thông báo mở lại phiên toà số: 11/TB-TA ngày 28 tháng 4 năm 2026; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1989; số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 30-8-2021, nơi cấp: Cục Q về TTXH. Vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn P, xã C, tỉnh Lào Cai.
- Bị đơn: Anh La Trọng V, sinh năm 1989; số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 30-8-2021, nơi cấp: Cục Q về TTXH. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn P, xã C, tỉnh Lào Cai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh La Trọng V kết hôn trên cơ sơ tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là xã C, tỉnh Lào Cai) ngày 09-9-2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được đến đầu năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh V không chung thuỷ, có quan hệ ngoại tình với nhiều người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi chửi lẫn nhau, chị đã khuyên bảo anh V nhiều lần nhưng anh V không thay đổi, vợ chồng cũng đã tự hoà giải nhiều lần và hai bên gia đình cũng đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2024 cho đến nay (anh V về nhà bố mẹ đẻ ở thôn L, xã C, tỉnh Lào Cai ở, còn chị ở nhà đất của bố mẹ chị cho ở thôn P, xã C, tỉnh Lào Cai) không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết. Đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh La Trọng V.
Về con chung: Chị và anh La Trọng V có 02 con chung là La Anh D, sinh ngày 14-9-2011 và La Anh T, sinh ngày 06/5/2015. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 2 con cho đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con.
Từ khi sống ly thân cho đến nay, hai con vẫn đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Cháu lớn La Anh D đang học lớp 9 tại trường tiểu học & THCS xã C, cháu bé La Anh T hiện đang học lớp 5 trường tiểu học &THCS xã C.
Chị đang làm lao động tự do tại địa phương (mở quán làm tóc) tại nhà đất riêng của bố mẹ đẻ cho tại thôn P, xã C, tỉnh Lào Cai. Thu nhập bình quân khoảng 10 triệu đồng/tháng, đủ điều kiện để nuôi dạy các con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo đơn nguyện vọng của con La Anh D và La Anh T, nếu bố mẹ các cháu ly hôn thì các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh V nhưng anh V không đến tòa để giải quyết việc chị H xin ly hôn anh nên không có lời khai của anh V, anh V không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng : Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H để xử cho chị H được ly hôn với anh La Trọng V. Về con chung: Chấp nhận đề nghị về nuôi con chung của chị Trần Thị H. Giao con chung là La Anh D, sinh ngày 14-9-2011 và La Anh T, sinh ngày 06/5/2015 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh La Trọng V không phải cấp dưỡng nuôi con.Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn là anh La Trọng V có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã C, tỉnh Lào Cai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai.
Nguyên đơn chị Trần Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn anh La Trọng V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai xét xử vắng mặt chị H, anh V là đúng quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh La Trọng V kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái ngày 09 tháng 9 năm 2010. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, chị H xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh V không chung thuỷ, có quan hệ ngoại tình với nhiều người phụ nữ khác, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 06/2024 cho đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Trần Thị H và anh La Trọng V đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, anh C không có mặt để hoà giải thể hiện anh V không có thiện chí hoà giải. Do đó yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ, cần được chấp nhận. Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để xử cho chị Trần Thị H được ly hôn anh La Trọng V.
Về con chung: Chị H và anh V có 02 con chung là La Anh D, sinh ngày 14-9-2011 và La Anh T, sinh ngày 06/5/2015. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét đề nghị của H về nuôi con thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, chị H đã cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu nuôi con của mình thể hiện chị H có việc làm, thu nhập và chỗ ở ổn định để nuôi con. Mặt khác, anh V không có ý kiến gì về vấn đề nuôi con, cháu La Anh D và La Anh T đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo về mọi mặt sinh hoạt và học tập của con cần giao hai con cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai tại phiên tòa về quan hệ hôn nhân và nuôi con chung là phù hợp, có căn cứ theo quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn anh La Trọng V.
2. Về con chung: Giao con chung là La Anh D, sinh ngày 14-9-2011 và La Anh T, sinh ngày 06/5/2015 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh La Trọng V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số 0002383 ngày 25/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Xác nhận chị H đã nộp đủ.
Chị Trần Thị H và anh La Trọng V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh LC; - VKSND KV2-LC; - P. THADS KV2-LC; - Các đương sự; - UBND xã Cảm Nhân; - Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Anh Đào |