- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Khang, Hoàng - phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (điều 290 Lu…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo Lữ Hoàng Minh K1 và Nguyễn Hòa Nhật H1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2025/HS-PT Ngày: 29-7-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn
- Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Kim Trường
Bà Bạch Thị Hồng Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng– Thư ký TAND tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ- cơ sở 3 xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2025/TLPT - HS ngày 30 tháng 6 năm 2025 đối với bản án số 21/2025/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ), do có kháng cáo của các bị cáo:
1. Lư Nguyễn Minh K, sinh ngày 13/8/2003 tại quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: A, Miếu G, phường B, quận B, TP Hồ Chí Minh (nay là phường B, TP Hồ Chí Minh). Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lư Chí M, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm1981; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 09/11/2024 chuyển tạm giam từ ngày 13/11/2024 đến nay, tại Trại tạm giam số 3- Công an tỉnh P), có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Hòa Nhật H1, sinh ngày 15/10/2002 tại phường M, TP L, tỉnh An Giang.
Nơi thường trú: C, đường T, khóm N, phường M, TP L, tỉnh An Giang (nay là phường L, tỉnh An Giang). Nơi tạm trú: A, Nguyễn Văn N, phường G, quận G, TP Hồ Chí Minh.
Nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: ( Không xác định được) và bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 09/11/2024 chuyển tạm giam từ ngày 13/11/2024 đến nay, tại Trại tạm giam số 3- Công an tỉnh P), có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Nguyễn Quốc P (tên gọi khác: Đ), sinh năm 2000.
Nơi thường trú: Thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là Thôn Đ, xã A, tỉnh Phú Thọ). Nơi tạm trú: V5.B01.18, khu đô thị F, phường H, quận N, TP Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lư Nguyễn Minh K và Nguyễn Hòa Nhật H1 trước đây cùng làm tại Công ty TNHH T1 có địa chỉ tại quận A, TP Hồ Chí Minh do anh Bùi Đức T là Giám đốc và quản lý.
Khoảng trưa ngày 03/11/2024 K đến công ty làm việc, nhưng không có anh T - giám đốc ở đó. Khang thấy máy tính của anh T vẫn mở và có hiện một trang Google Sheet có thông tin nhiều tài khoản tiền ảo của anh Nguyễn Quốc P trên sàn giao dịch “xt.com”. Lúc này, K nảy sinh ý định lấy tiền của các tài khoản trên vì K biết từ tiền ảo có thể bán sang tiền Việt Nam đồng để chi tiêu.
Đến khoảng 18 giờ ngày 03/11/2024, K thực hiện copy thông tin tài khoản, mật khẩu của anh Nguyễn Quốc P trên máy tính anh T chuyển sang máy tính mà K làm việc.
Đến khoảng 22 giờ ngày 03/11/2024, K gọi điện cho H1 qua ứng dụng Messenger rủ H1 rút tiền ảo từ các tài khoản, mật khẩu mà K lấy được từ máy tính của anh T. H1 đồng ý nhưng H1 nói với K rằng H1 không biết làm. Một lúc sau, K gọi điện lại cho H1 qua ứng dụng Messenger để hướng dẫn Hoàng cách rút tiền ảo từ các tài khoản trên sàn giao dịch “xt.com”, ngoài gọi điện, K còn nhắn tin, quay video lại cách làm gửi cho H1 và bảo H1 ngày mai ra quán Internet không có camera để thực hiện việc xâm nhập rồi chuyển, rút tiền tiền ảo vào tài khoản của K để không bị phát hiện, H1 đồng ý.
Khoảng 10 giờ sáng ngày 04/11/2024, K đi làm bình thường và thực hiện chia sẻ cho H1 tệp tin có thông tin tài khoản, mật khẩu đã lấy được từ máy tính của anh T. Sau đó, theo hướng dẫn của K, H1 đã đăng nhập vào các tài khoản có trong tệp tin rồi chuyển toàn bộ số tiền ảo 12.429 USDT có trong các tài khoản trên vào một ví điện tử là trung gian Metamask của K.
Đến khoảng 20 giờ ngày 04/11/2024, K và H1 gặp nhau tại quán ăn và thỏa thuận K chia cho H1 35% số tiền ảo chiếm đoạt được và K trả H1 số tiền mà K đã nợ H1 từ trước, tổng số tiền ảo USDT K chuyển từ ví Metamask của K về ví điện tử trên sàn giao dịch Binance của H1 là 4.850 USDT. Đồng thời K chuyển từ ví Metamask của K chuyển về ví điện tử trên sàn giao dịch Binance của K là 7.579 USDT. Quá trình điều tra xác định bị cáo Lư Nguyễn Minh K và Nguyễn Hòa Nhật H1 đã chiếm đoạt 12.429 USDT tiền ảo của anh Nguyễn Quốc P, sau đó K đã bán được 7.579 USDT ra tiền Việt Nam đồng là 189.747.049 (một trăm tám mươi chín triệu bảy trăm bốn bảy nghìn không trăm bốn chín đồng), H1 đã bán 200 USDT ra tiền Việt Nam đồng được 5.174.106 đồng (năm triệu một trăm bảy tư nghìn một trăm linh sáu đồng). Toàn bộ số tiền sau khi bán tiền ảo USDT từ ví điện tử trên sàn giao dịch Binance được chuyển về tài khoản Ngân hàng cá nhân của từng bị cáo, các bị cáo đã thực hiện chi tiêu cá nhân hết.
Bị hại là anh Nguyễn Quốc P đã nhận đủ số tiền bồi thường của Lư Nguyễn Minh K và Nguyễn Hòa Nhật H1, nay anh Nguyễn Quốc P không yêu cầu bồi thường gì khác.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HSST ngày 28/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh Phú Thọ) đã quyết định:
Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lư Nguyễn Minh K 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2024. Xử phạt: Nguyễn Hòa Nhật H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2024. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, bị cáo Khang kháng C với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 bị cáo H1 kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Về thời hạn kháng cáo và thủ tục thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo đã được thực hiện trong thời hạn và đúng hình thức theo quy định;
Về nội dung kháng cáo: Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ), xử phạt bị cáo Lư Nguyễn Minh K và Nguyễn Hòa Nhật H1 về tội " Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản" theo điểm đ khoản 2 Điều 290 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo có thêm tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HSST ngày 28/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13- Phú Thọ), cụ thể: Xử phạt Lư Nguyễn Minh K 03 năm 06 tù, Nguyễn Hòa Nhật H1 03 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, các Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án và Người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo Lư Nguyễn Minh K, Nguyễn Hòa Nhật H1 kháng cáo theo quy định, được chấp nhận để xem xét.
Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo:
2.1. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Sau khi copy được các thông tin tài khoản, mật khẩu của anh Nguyễn Quốc P trên máy tính anh T - Giám đốc Công ty về máy tính làm việc của mình. Khoảng 22 giờ ngày 03/11/2024, K gọi điện cho H1 qua ứng dụng Messenger rủ H1 rút tiền ảo từ các tài khoản, mật khẩu mà K lấy được từ máy tính của anh T. H1 đồng ý nhưng H1 nói với K rằng H1 không biết làm. Một lúc sau, K gọi điện lại cho H1 qua ứng dụng Messenger để hướng dẫn Hoàng cách rút tiền ảo từ các tài khoản trên sàn giao dịch “xt.com”, ngoài gọi điện, K còn nhắn tin, quay video lại cách làm gửi cho H1 và bảo H1 ngày mai ra quán Internet không có camera để thực hiện việc xâm nhập rồi chuyển, rút tiền tiền ảo vào tài khoản của K để không bị phát hiện, H1 đồng ý.
Sau khi đăng nhập trái phép vào tài khoản ví điện tử của anh Nguyễn Quốc P, bị cáo H1 đã chuyển toàn bộ 12.429 USDT có trong các tài khoản trên vào một ví điện tử là trung gian Metamask của K.
Đến khoảng 20 giờ ngày 04/11/2024, K và H1 gặp nhau tại quán ăn và thỏa thuận K chia cho H1 35% số tiền ảo chiếm đoạt được và K trả H1 số tiền mà K đã nợ H1 từ trước, tổng số tiền ảo USDT K chuyển từ ví Metamask của K về ví điện tử trên sàn giao dịch Binance của H1 là 4.850 USDT. K chuyển từ ví Metamask của K chuyển về ví điện tử trên sàn giao dịch Binance của K là 7.579 USDT.
Sau đó K đã bán toàn bộ tiền ảo USDT từ ví điện tử trên sàn giao dịch Binance của K được 189.747.049 đồng về số tài khoản 0901.387.533 ngân hàng M1 của K để chi tiêu vào mục đích cá nhân. Còn H1 đã bán được 200 USDT được 5.174.106 đồng chuyển tiền sang số tài khoản 0854.350.595 ngân hàng MB của H1 để chi tiêu vào mục đích cá nhân.
Với các nội dung trên, Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ) xử phạt các bị cáo Lư Nguyễn Minh K và Nguyễn Hòa Nhật H1 về tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản" theo điểm đ khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
2.2. Về kháng cáo của Lư Nguyễn Minh K:
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét áp dụng tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cung cấp được tài liệu “Giấy xác nhận của chính quyền địa phương về việc gia đình bị cáo hiện tại có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính", sau khi xét xử sơ thẩm đã nộp tiền án phí hình sự (theo biên lai thu số 0002238 ngày 28/5/2025 của chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bôi). Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
2.3. Đối với kháng cáo của Nguyễn Hòa Nhật H1:
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cung cấp được tài liệu: “Giấy xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo là sinh viên vừa đi học, vừa đi làm, không có tiền án , tiền sự có hoàn cảnh gia đình khó khăn", sau khi xét xử sơ thẩm đã nộp tiền án phí hình sự (theo biên lai thu số 0002236 ngày 28/5/2025 của chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bôi). Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
2.4. Với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, cũng như đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
. Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 355; điểm c, khoản 1 Điều 357; Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự: Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HSST ngày 28/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13- Phú Thọ) như đã nhận định nêu trên.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 355; điểm c, khoản 1 Điều 357; Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo Lữ Hoàng Minh K1 và Nguyễn Hòa Nhật H1.
2. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HSST ngày 28/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13- Phú Thọ) về phần hình phạt đối với các bị cáo Lư Nguyễn Minh K và Nguyễn Hòa Nhật H1, cụ thể:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Lư Nguyễn Minh K và Nguyễn Hòa Nhật H1 phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Lư Nguyễn Minh Khang 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2024.
Xử phạt: Nguyễn Hòa Nhật H1 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2024.
3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23, Điều 29 Nghị quyết 326/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Tòa án:
Các bị cáo Lư Nguyễn Minh K và Nguyễn Hòa Nhật H1 phải chịu án phí hình sự sơ phẩm mỗi người là 200.000đ, không phải chịu án phí hình sự phúc phẩm.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HSST ngày 28/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13- Phú Thọ) không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (29/7/2025).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 13- Phú Thọ; - TAND khu vực 13- Phú Thọ; - Phòng THADS khu vực 13 - Phú Thọ; - Trại tạm giam số 3- CA tỉnh Phú Thọ - Bị cáo; (qua trại tạm giam) - Lưu HS; Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Tuấn |