vanban.org

Bản án 46/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn V đối với chị Dương Ngọc H. Cho anh V được ly hôn với chị H.

2- Về con chung: Giao Nguyễn Dương Đăng K, sinh ngày 24/6/2019 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp chị H vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi thì anh V có quyền yêu cầu thay…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn V đối với chị Dương Ngọc H. Cho anh V được ly hôn với chị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09-9-2025
Về việc ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Trường Hận.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để và bà Phạm Thanh Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Thư - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 7 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21/8/2025, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh ngày 12/10/1991; địa chỉ: ấp A, xã A, tỉnh An Giang.

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx

2- Bị đơn: Chị Dương Ngọc H, sinh ngày 19/3/2000; địa chỉ: ấp P, xã Đ, tỉnh An Giang.

Chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx

Anh V có đơn xin vắng mặt, chị H vắng mặt lần 02 không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]- Theo đơn khởi kiện nguyên đơn trình bày: Anh chị kết hôn năm 2019, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là xã Đ). Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H không toàn tâm toàn ý với anh V, lúc nào cũng muốn ra ngoài sống để được tự do. Năm 2023 chị H mang theo con bỏ nhà đi và anh chị sống ly thân từ đó đến nay. Anh chị có 01 người con chung là Nguyễn Dương Đăng K, sinh ngày 24/6/2019, đang sống với chị H. Nay vợ chồng không hàn gắn được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị H. Yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Anh chị không tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh V thay đổi yêu cầu về nuôi con. Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/5/2025, anh V trình bày tự nguyện giao con cho chị H nuôi dưỡng.

[2]- Bị đơn là chị H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

[3]- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh V đối với chị H và giao con cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Không ai yêu cầu gì khác nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Anh V yêu cầu ly hôn nên Tòa án thụ lý đơn giải quyết theo khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình. Anh V yêu cầu được ly hôn và yêu cầu giải quyết quyền nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn và nuôi con”.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.

Về hôn nhân: Năm 2019 anh V và chị H đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật (Giấy chứng nhận kết hôn số 31, do Ủy ban nhân dân xã V cấp ngày 02/4/2019) nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh chị xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân từ đầu năm 2023.

Xét thấy, anh chị mâu thuẫn thời gian dài, hiện nay mỗi người sống một nơi. Tòa án đã tổ chức hòa giải để tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn nhưng chị H vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Anh chị là vợ chồng nhưng không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau là vi phạm Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh V và thống nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc cho anh V được ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh chị có một người con chung là Nguyễn Dương Đăng K, sinh ngày 24/6/2019, hiện tại đang sống bên chị H. Anh V thống nhất giao con cho chị H nuôi.

Xét thấy, từ trước đến nay chị H là người trực tiếp nuôi con, anh V đồng ý giao con cho chị H nuôi, chị H không có ý kiến gì. Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của anh V, tiếp tục giao con chung của anh chị cho chị H trực tiếp nuôi. Cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của chị H nhưng chị không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu phát sinh tranh chấp, đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện thành vụ án khác.

Về án phí sơ thẩm: Anh V là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Như vậy, anh V phải chịu án phí là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 92, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 19, 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn V đối với chị Dương Ngọc H. Cho anh V được ly hôn với chị H.

2- Về con chung: Giao Nguyễn Dương Đăng K, sinh ngày 24/6/2019 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp chị H vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi thì anh V có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3- Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn V chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005396 ngày 20/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7).

4- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ