vanban.org

Bản án 46/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng d sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng d sự
TÒA ÁN NHÂ DÂ
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/01/2025.
V/v “Tranh chấp hôn nh và gia đình,
ly hôn, con chung”

NHÂ DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂ DÂ HUYỆN A

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Việt Quốc

Các Hội thẩm nh dÂ: Ông Võ Hoàng Nghiệp và bà Nguyễn Thị Lợi.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V - Thư ký Tòa án nh d huyện A.

Đại diện Viện kiểm sát nh d huyện A tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nh d huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 342/2024/TLST - HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hôn nh và gia đình, ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1187/2024/QĐXXS-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2025/QĐST-HN ngày 07/01/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Cao Thị H, sinh năm: 1991; Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Ông Nguyễn Trường V, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang.

(Bà H có đơn xin xét xử mặt. Ông V vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/10/2024 cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Cao Thị H trình bày: Hôn nh giữa bà và và ông Nguyễn Trường V là do tự tìm hiểu được cha mẹ đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại Ủy ban nh d xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Thời gian đầu vợ cH chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 sau khi sinh cháu Nguyễn Cao Thiên  thì vợ cH phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhÂ, do vợ cH bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình, thường xuyên cải nhau trong suốt thời gian dài và không tìm được tiếng nói chung và đã không còn chung sống với nhau từ tháng 10 năm 2019 cho đến nay. Nay, bà xin ly hôn với ông V.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Cao Thiên Â, sinh ngày 13/10/2018. Hiện nay, con chung đang sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Â, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các thông báo thụ lý, hòa giải cũng như thông báo về việc tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông V theo quy định nhưng ông V vắng mặt không lý do.

Tại biên bản xác minh ngày 18/12/2024 được bà D cho biết: Bà là mẹ ruột của ông Nguyễn Trường V, bà Cao Thị H là vợ của V. Ông V đã biết H nộp đơn ly hôn với V nhưng do đi làm ăn xa không về theo giấy triệu tập của Tòa án. Hôn nhân giữa H và Nguyễn Trường V là do tự tìm hiểu được cha mẹ đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ cH chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì vợ cH phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhÂ, do hai bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình, thường xuyên cải nhau trong suốt thời gian dài và đã không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2020 cho đến nay. Việc ly hôn giữa H và V bà không có ý kiến tùy Tòa án giải quyết. Ông V và bà H có 01 con chung Nguyễn Cao Thiên Â, sinh năm 2018. Hiện nay, cháu  đang sống với bà H.

Tại biên bản xác minh ngày 23/12/2024, Công an thị trấn L cho biết hiện ông Nguyễn Trường V vẫn còn đăng ký thường trú tại khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, bà H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông V vắng mặt lần 2.

Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tu theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa phát biểu: Về việc tu thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi hòa giải, xác minh thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng d sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử, thư ký không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung vụ án: Yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Cao Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Trường V. Đồng thời, ông V có nơi cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng d sự, đây là tranh chấp về hôn nh và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nh d huyện A.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông V vắng mặt lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhÂ: Hôn nh giữa bà H và ông V có đăng ký kết hôn theo quy định nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nh và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu của bà H ly hôn với ông V thì thấy: Thời gian ly thÂg giữa bà H và ông V đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, điều nay cũng phù hợp với biên bản xác minh mâu thuẫn ngày 18/12/2024 mà Tòa án thu thập được và lời khia của mẹ ông V. Do vậy có căn cứ cho thấy mục đích hôn nh giữa bà H và ông V không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ cH đã thật sự trầm trọng, do đó yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nh và gia đình.

[4] Về con chung: Bà H và ông V có 01 con chung Nguyễn Cao Thiên Â, sinh ngày 13/10/2018. Hiện nay, cháu  đang sống với bà H, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Đo đó để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu  sau này được tốt nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H giao cháu Nguyễn Cao Thiên  cho bà H được tiếp tục nuôi dạy.

Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người th thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bà H là nguyên đơn nên chịu án phí d sự sơ thẩm về hôn nh và gia đình. Ông Nguyễn Trường V không phải chịu án phí d sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 55, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nh và gia đình;

Căn cứ các điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng d sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Cao Thị H

- Về hôn nhÂ: Bà Cao Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Trường V.

- Về con chung: Bà Cao Thị H được tiếp tục nuôi dạy Nguyễn Cao Thiên Â, sinh ngày 13/10/2018. Công nhận sự tư nguyện của bà H không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người th thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

- Về án phí: Bà Cao Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí d sự sơ thẩm về hôn nh và gia đình, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0010087 ngày 29/10/2024 tại Chi cục Thi hành án d sự huyện A (bà H đã nộp đủ).

Bà H, ông V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ