vanban.org

Bản án 46/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị K về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Dương Q.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị K và anh Dương Q có 01 con chung tên Dương Anh T, sinh ngày 20/7/2012. Giao chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Dương Anh T, ghi nhận chị K không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị K không yêu cầu giả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị K - Dương Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị K về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Dương Q.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11-TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26-8-2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Bạch Tuyết;

2. Bà Hồ Thị Mỹ Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tống Hoàng Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11-Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lâm Hà Thuyên, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11-Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 về “Tranh ch p h n nu i con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Ngu ên đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1987; vắng mặt.

HKTT: tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là tổ I, ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh).

Cư trú tại: tổ E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là tổ E, ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh).

Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx.

- Bị đơn: Anh Dương Q, sinh năm 1989; vắng mặt.

Cư trú tại: tổ E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là tổ E, ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh).

Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngà 11 tháng 3 năm 2025 và các ời khai trong quá trình giải qu ết vụ án ngu ên đơn – chị Ngu ễn Thị K trình bày:

Chị và anh Dương Q tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được thời gian những năm đầu. Từ năm 2024 anh chị phát sinh mâu thuẫn ngày một nặng nề hơn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nhau. Anh chị đã không chung sống cùng nhau từ tháng 5/2024 cho đến nay. Chị yêu cầu được ly hôn với anh Q.

Về con chung: Chị và anh Q có 01 con chung tên Dương Anh T, sinh ngày 20/7/2012. Hiện tại chị đang nuôi dưỡng. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải qu ết vụ án bị đơn anh Dương Q đã được Tòa án triệu tập hợp ệ nhưng anh Q vắng mặt kh ng có ý do kh ng nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình và cung c p ời khai đối với êu cầu của ngu ên đơn kh ng tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận c ng khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị K có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Dương Q đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Về hôn nhân: chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Dương Q; về con chung: cháu Dương Anh T, sinh ngày 20/7/2012 giao cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chị K không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung, tài sản riêng, nợ riêng: không có; về án phí: chị K chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ tài iệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa ý kiến của đại diện Viện kiểm sát xét th :

Về tố tụng: chị Nguyễn Thị K có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt; anh Dương Q đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị K và anh Q.

Về hôn nhân: chị K và anh Q tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Chị K cho rằng vợ chồng chung sống mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi nhau, hiện tại anh chị không chung sống cùng nhau. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh Q để giao nộp văn bản ghi ý kiến, cung cấp lời khai đối với yêu cầu của chị K; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Q vắng mặt không có lý do. Qua thu thập chứng cứ thể hiện: anh Q không có mặt tại địa phương từ tháng 6/2024 cho đến nay, không xác định được anh Q đi đâu, thỉnh thoảng anh Q có về địa phương rồi lại đi. Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình về tình nghĩa vợ chồng thì: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương êu chung thuỷ t n trọng quan tâm chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các c ng việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…”. Hiện tại anh chị không còn chung sống cùng nhau nên xét thấy hôn nhân của chị K và anh Q không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K.

Về con chung: chị Nguyễn Thị K và anh Dương Q có 01 con chung tên Dương Anh T, sinh ngày 20/7/2012. Cháu T có nguyện vọng được sống với chị K. Quá trình giải quyết vụ án không làm việc được với anh Q nên không thể hiện ý chí muốn được nuôi con của anh Q. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Dương Anh T là hoàn toàn phù hợp. Ghi nhận chị K không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: chị K không yêu cầu giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Vì các ẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị K về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Dương Q.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị K và anh Dương Q có 01 con chung tên Dương Anh T, sinh ngày 20/7/2012. Giao chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Dương Anh T, ghi nhận chị K không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị K không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị K đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0002142 ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11). Chị Nguyễn Thị K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ