vanban.org

Bản án 46/2025/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ hôn nhân giữa Nguyễn Thị T và Lê Văn L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 46/2025/HN-ST
Ngày: 27-3-2025
“V/v tranh chấp hôn nhân
và gia đình về ly hôn,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thuý Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Mai Thị Nhặc

2. Bà Lê Thị Thu Hồng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Trang -

Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lanh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 25/2025/TLST - HNGĐ, ngày 04/02/2025, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXX-ST ngày 10 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; Địa chỉ cư trú: ấp B, xã N, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn L, sinh năm 1985; Địa chỉ cư trú: Địa chỉ cư trú: ấp B, xã N, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Chị T, anh L vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn và trong quá trình tố tụng, chị Nguyễn Thị T trình bày:

1. Về hôn nhân: Chị xin ly hôn với anh Lê Văn L.

Lý do ly hôn: Cả hai quen biết mới tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 27/02/2005 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Mỏ Cày Nam. Trong quá trình sống chung có 02 con chung. Nhưng do vợ chồng không hợp nhau về tính tình, mâu thuẫn xảy ra thường xuyên nay thấy không thể hàn gắn được nữa và không còn tình cảm với anh L nên quyết định ly hôn.

2. Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Nhựt P, sinh ngày 17/03/2006 và Lê Thị Mỹ A, sinh ngày 15/7/2017. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị T đề nghị được trực tiếp nuôi Lê Thị Mỹ A và yêu cầu anh Lê Văn L cấp dưỡng nuôi con, mỗi tháng 1.5000.000 đồng/ tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Riêng Lê Nhựt P đã trưởng thành, không yêu cầu.

3. Về tài sản chung của vợ chồng: Chị không yêu cầu.

4. Về nợ chung của vợ chồng: Chị trình bày không có.

- Bị đơn anh Lê Văn L vắng mặt theo giấy triệu tập, không lời trình bày.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu cho rằng:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng như đương sự nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T; Về con chung: Lê Nhựt P, sinh ngày 17/03/2006 và Lê Thị Mỹ A, sinh ngày 15/7/2017. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị T được trực tiếp nuôi con Lê Thị Mỹ A và buộc anh Lê Văn L cấp dưỡng nuôi con, mỗi tháng 1.5000.000 đồng/con/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Riêng Lê Nhựt P đã trưởng thành, không yêu cầu, không giải quyết; Tài sản chung: Không yêu cầu, không giải quyết; Về nợ chung: Không có, không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[ 1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Căn cứ vào đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử xác định vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung”; Trong đó xác định chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn, anh Lê Văn L là bị đơn; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét việc vằng mặt của chị Nguyễn Thị T có đơn xin vắng, anh Lê Văn L vắng mặt lần thứ 2, không có đơn xin vắng nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung giải quyết vụ án:

1. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T, thấy rằng:

Quá trình tố tụng, chị T vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn. Anh L vắng mặt không lời trình bày.

Khi thực hiện xác minh, đại diện chính quyền địa phương cho biết thông tin: Hôn nhân của anh L và chị T có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu là về kinh tế. Vợ chồng có 02 con chung, con trai đã trưởng thành, con gái đang học lớp 2. Anh L làm hồ, thu nhập khoảng 6.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng, địa phương không rõ.

Thấy rằng mục đích hôn nhân là để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; trong quá trình sống chung vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh L là có thật. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung nhưng không tìm được hướng giải quyết mâu thuẫn mà để mặc cho mâu thuẫn diễn ra ngày càng tầm trọng, chị T xác định không còn tình cảm với anh L và kiên quyết ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cũng đã tạo điều kiện triệu tập để cho vợ chồng hòa giải tìm cách hàn gắn tình cảm, tuy nhiên anh L không đến Toà điều đó chứng minh anh L không có ý muốn hoà giải với chị T và bỏ mặc việc chị T đơn phương ly hôn. Xét khả năng hàn gắn đoàn tụ là không thể, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân đã không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.

2. Về con chung: Lê Nhựt P, sinh ngày 17/03/2006 và Lê Thị Mỹ A, sinh ngày 15/7/2017. Xét thấy Lê Nhựt P đã trưởng thành, không yêu cầu nên không xem xét. Đối với Lê Thị Mỹ A khi được hỏi ý kiến thì có nguyện vọng sống chung với mẹ, cháu lại là con gái cần mẹ chăm sóc hơn nên để chị T trực tiếp nuôi con là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị T yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi Lê Thị Mỹ A mỗi tháng 1.500.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, chị T cho rằng hiện nay chị thu nhập mỗi tháng 8.000.000 đồng, anh L thu nhập làm hồ mỗi tháng 15.000.000 đồng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Trong khi địa phương xác định anh L thu nhập làm hồ khoảng 6.000.000 đồng/tháng. Thấy rằng nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là của người không trực tiếp nuôi con khi ly hôn để đảm bảo quyền lợi của con nên buộc anh L cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. Mặc dù chị T không chứng minh được mức thu nhập của anh L, nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024, quy định mức cấp dưỡng không được thấp hơn một nữa tháng lương tối thiểu vùng nơi người cấp dưỡng đang cư trú. Thấy rằng, theo quy định tại Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ thì huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre thuộc vùng III, có mức lương tối thiểu vùng là 3.860.000 đồng/tháng. Đối chiếu quy định của pháp luật, xét thấy mức yêu cầu của chị T với mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng là phù hợp nên chấp nhận.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ đều có quyền, nghĩa vụ đối với con chung chưa thành niên theo quy định tại Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung của vợ chồng: Chị T và anh L không yêu cầu, không giải quyết.

4. Về nợ chung của vợ chồng: Chị T trình bày không có, anh L vắng mặt không lời trình bày, không giải quyết.

[3]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Án phí dân sự không có giá ngạch đối với yêu cầu xin ly hôn, chị T chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.

Cụ thể tuyên:

1. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Lê Văn L.

2. Về con chung: Lê Nhựt P, sinh ngày 17/03/2006 (đã trưởng thành) và Lê Thị Mỹ A, sinh ngày 15/7/2017.

Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị T được trực tiếp nuôi con là Lê Thị Mỹ A. Buộc anh Lê Văn L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), cấp từng tháng, cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ đều có quyền, nghĩa vụ đối với con chung chưa thành niên theo quy định tại Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Văn L không yêu cầu, không giải quyết.

4. Về nợ chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị T trình bày không có, anh Lê Văn L vắng mặt không lời trình bày, không giải quyết.

Các đương sự không có yêu cầu nào khác, không xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch:

Đối với yêu cầu ly hôn: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Nguyễn Thị T phải chịu. Được khấu trừ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008393 ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), anh Lê Văn L chịu.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ