vanban.org

Bản án 46/2025/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Thùy T đối với chị Huỳnh Thị Hạnh D.

Buộc chị Huỳnh Thị Hạnh D có nghĩa vụ trả cho chị Dương Thị Thùy T số tiền hụi vốn là 294.900.000 (hai trăm chín mươi bốn triệu chín trăm nghìn) đồng. Ghi nhận chị T không yêu cầu tính lãi. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Thùy T đối với chị Huỳnh Thị Hạnh D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 471 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/DS-ST
Ngày 06-5-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Hằng;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Thanh Quang

2. Ông Bùi Dân An.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Thúy Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lâm Thúy Vi, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 474/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thùy T, sinh năm: 1995; hộ khẩu thường trú: Số 409/7, ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Phú, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; nơi tạm trú: Phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Thái Thị Kim P, sinh năm: 1996; địa chỉ: Khu phố Lộc Thọ, Lộc hưng , thị xã Trảng bàng, tỉnh Tây Ninh (Hợp đồng ủy quyền ngày 15-11-2024), có mặt.

- Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Hạnh D, sinh năm: 1986; địa chỉ: Số nhà 227, ấp Trường Xuân, xã Trường Hòa, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ KIỆN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 9 năm 2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Dương Thị Thùy T và người đại diện theo ủy quyền chị Thái Thị Kim P trình bày:

Xuất phát từ việc có người quen chơi chung rồi sao đó thân thiết, dần dần chị D có mời chị T tham gia chơi hụi do chị D làm chủ thảo (chủ hụi), hình thức khui hụi online (trực tuyến). Tổng cộng là 09 dây, cụ thể như sau: Hụi sống

Dây 1: Hụi 5 ngày 3.000.000 đồng, khui ngày 15/05/2024, mãn ngày 07/09/2024. Tổng dây hụi có 24 phần, chị T tham gia 01 phần, đóng được 11 lần, tổng số tiền đã đóng là 26.900.000 đồng (bao gồm tiền đóng thảo trước là 1.500.000 đồng).

Dây 2: Hụi 1 tuần 5.000.000 đồng, khui vào Thứ 6 hằng tuần, khui ngày 31/05/2024, mãn ngày 27/09/2024. Tổng dây hụi có 18 phần, chị T tham gia 01 phần, đóng được 06 lần, tổng số tiền đã đóng là 25.380.000 đồng (bao gồm tiền đóng thảo trước là 2.500.000 đồng).

Dây 3: Hụi 1 ngày 2.000.000 đồng (Mã D12), khui ngày 02/06/2024, mãn ngày 14/07/2024. Tổng dây hụi có 42 phần, chị T tham gia 01 phần, đóng được 33 lần, tổng số tiền đã đóng là 53.050.000 đồng (bao gồm tiền đóng thảo trước là 1.400.000 đồng).

Dây 4: Hụi 1 ngày 2.000.000 đồng (Mã D17), khui ngày 13/06/2024, mãn ngày 13/07/2024. Tổng dây hụi có 30 phần, chị T tham gia 02 phần, đóng được 22 lần, tổng số tiền đã đóng là 77.100.000 đồng (bao gồm tiền đóng thảo trước là 1.000.000 đồng).

Dây 5: Hụi 1 ngày 6 triệu, khui ngày 28/06/2024, mãn ngày 13/07/2024. Tổng dây hụi có 15 phần, chị T tham gia 01 phần, đóng được 07 lần, tổng số tiền đã đóng là 38.340.000 đồng (bao gồm tiền đóng thảo trước là 1.500.000 đồng).

Dây 6: Hụi 1 ngày 4.000.000 đồng, khui ngày 02/07/2024, mãn ngày 18/07/2024. Tổng dây hụi có 17 phần, chị T tham gia 01 phần, đóng được 04 lần, tổng số tiền đã đóng là 14.800.000 đồng (bao gồm tiền đóng thảo trước là 1.200.000 đồng).

Dây 7: Hụi 1 ngày 5.000.000 đồng, khui ngày 28/06/2024, mãn ngày 13/07/2024. Tổng dây hụi có 15 phần, chị T tham gia 01 phần, đóng được 07 lần, tổng số tiền đã đóng là 32.420.000 đồng (bao gồm tiền đóng thảo trước là 1.200.000 đồng).

Dây 8: Hụi 1 ngày 3.000.000 đồng, khui ngày 26/06/2024, mãn ngày 15/07/2024. Tổng dây hụi có 20 phần, chị T tham gia 01 phần, đóng được 09 lần, tổng số tiền đã đóng là 24.680.000 đồng (bao gồm tiền đóng thảo trước là 1.100.000 đồng).

Dây 9: Hụi 1 ngày 1.000.000 đồng, khui ngày 04/07/2024, mãn ngày 18/08/2024. Tổng dây hụi có 46 phần, chị T tham gia 01 phần, đóng được 02 lần, tổng số tiền đã đóng là 2.230.000 đồng (bao gồm tiền đóng thảo trước là 800.000 đồng).

Từ dây 01 đến dây 09, tổng số tiền chị T đã đóng cho chị D là 294.900.000 đồng. Tất cả các dây hụi và số tiền chị T giao dịch trên đều thông qua số tài khoản chính chủ mang tên Huỳnh Thị Hạnh D, ngân hàng MB Bank (Ngân hàng Quân Đội) số tài khoản là xxxxxxxxxx.

Vào ngày 05/07/2024, chị T vẫn đóng đầy đủ số tiền mà chị D yêu cầu cần đóng, tuy nhiên đến tối khuya ngày 05/07/2024 thì trong các nhóm hụi chung do chị D lập ra thì mọi người truyền tai nhau không liên lạc được cũng như có gọi điện nhưng không bắt máy, rồi đến sáng ngày 06/07/2024 từ số điện thoại liên hệ cũng như các trang mạng xã hội như Zalo, Facebook chính chị T cũng liên hệ nhưng tuyệt nhiên không kết nối được. Chị T yêu cầu Tòa án buộc chị Huỳnh Thị Hạnh D phải có nghĩa vụ thanh toán cho chị số tiền hụi vốn còn nợ là 294.900.000 đồng. Số tiền này không liên quan đến ai khác trong gia đình chị T, chị D.

Ngày 19-11-2024, chị T rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền chị gái của chị T là Dương Mỹ L hiện đang cư trú tại Hàn Quốc chơi hụi của chị D. Chị L sẽ khởi kiện chị D ở vụ kiện khác.

Bị đơn chị D đã được Tòa án gọi điện thoại, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt và không có ý kiến trình bày.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh trình bày:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự; Thư ký thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Phụng có mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chị D vắng mặt không có lý do. Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.

- Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành đề xuất hướng giải quyết: Căn cứ vào các Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị T đối với chị D. Buộc chị D có nghĩa vụ trả cho chị T số tiền hụi vốn là 294.900.000 đồng, chị T không yêu cầu tính lãi. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị T đối với chị D. Đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Kiến nghị khác: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn chị D vắng mặt không có lý do. Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 19-11-2024, chị T rút một phần yêu cầu khởi kiện chị D đối với số tiền 122.000.000 đồng. Lý do đây là tiền hụi của chị gái Dương Mỹ L đang định cư ở Hàn Quốc. Chị L sẽ khởi kiện chị D ở vụ kiện khác. Tòa án đình chỉ một phần vụ kiện theo Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.

Xét yêu cầu khởi kiện: Chị T khởi kiện yêu cầu chị D trả số tiền hụi vốn là 294.900.000 đồng. Tài liệu, chứng cứ là sao kê tài khoản Ngân hàng, tin nhắn Zalo. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu tính lãi. Chị D đã được Tòa án mời nhiều lần nhưng không lên Tòa để trình bày ý kiến, đối chất, hòa giải việc chị D thiếu tiền hụi chị T. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị T là có căn cứ.

Nhận xét, quan điểm và đề xuất nêu trên của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành là có căn cứ.

Về án phí: Chị D phải chịu 14.745.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 471 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Thùy T đối với chị Huỳnh Thị Hạnh D.

Buộc chị Huỳnh Thị Hạnh D có nghĩa vụ trả cho chị Dương Thị Thùy T số tiền hụi vốn là 294.900.000 (hai trăm chín mươi bốn triệu chín trăm nghìn) đồng. Ghi nhận chị T không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Thùy T yêu cầu chị Huỳnh Thị Hạnh D trả tiền hụi vốn là 122.000.000 (một trăm hai mươi hai triệu) đồng.

- Người khởi kiện được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

- Chị Huỳnh Thị Hạnh D phải chịu 14.745.000 (mười bốn triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Chị Dương Thị Thùy T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho chị T tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.338.000 (mười triệu ba trăm ba mươi tám nghìn) đồng theo biên lai thu số 0011719 ngày 31-10-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ