- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp HĐ vay"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Xuân Tr đối với bị đơn bà Phạm Thị M, ông Bùi Quang C về Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 46/2025/DS-ST Ngày: 21-5-2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Bình
2. Ông Nguyễn Đức Binh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Sang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2025/TLST-DS ngày 05 tháng 02 năm 2025 về Tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2025/QĐXXST-DS ngày 15/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2025/QĐST-DS ngày 05/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968 và ông Nguyễn Xuân Tr, sinh năm 1966; nơi thường trú: Tổ U, thôn T, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh B; Địa chỉ liên hệ: Nhà số M, đường số N, phường Ph, thành phố Th, Thành phố H.
Ông Tr chết ngày 28/02/2025 theo Giấy chứng tử số 08/2025 ngày 07/3/2025.
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Xuân Tr:
1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; nơi thường trú: Tổ U, thôn T, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh B.
2. Ông Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1992;
3. Bà Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm 1991;
4. Bà Nguyễn Thị Thùy Tr1, sinh năm 1995;
5. Ông Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 2000;
6. Bà Nguyễn Thị Xuân Th1, sinh năm 2004;
Cùng thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh B.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đồng thời là người đại diện hợp pháp của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Tr là ông Nguyễn Xuân Q, bà Nguyễn Thị Thanh Th, bà Nguyễn Thị Thùy Tr1, ông Nguyễn Xuân Đ, bà Nguyễn Thị Xuân Th:
1. Bà Hoàng Thị Bích Ng, sinh năm 1984; Thường trú: Tổ U1, thôn T1, xã N, huyện Đ1, tỉnh B; Địa chỉ liên hệ: Nhà số M, đường số N, phường Ph, thành phố Th, Thành phố H.
2. Bà Nguyễn Ngọc Bảo K, sinh năm 2002; Thường trú: thôn T2, xã Th, huyện Đ2, tỉnh L; Địa chỉ liên hệ: Nhà số M, đường số N, phường Ph, thành phố Th, Thành phố H.
Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 17/02/2025 và văn bản ủy quyền ngày 26/3/2025).
- Bị đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1969 và ông Bùi Quang C, sinh năm 1966; cùng nơi cư trú: tổ V3, khu phố X3, thị trấn Đ4, huyện Đ1, tỉnh B.
Bà Ng, bà K, bà H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bà M, ông C vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/12/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Hoàng Thị Bích Ng là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vợ chồng bà Phạm Thị M và ông Bùi Văn Cảnh có vay mượn tiền của bà Nguyễn Thị H và chồng là ông Nguyễn Xuân Tr. Việc vay mượn có ghi nhận lại trong Giấy mượn tiền có chữ ký xác nhận của bà Phạm Thị M. Cụ thể như sau:
Ngày 10/12/2021, bà Phạm Thị M đã mượn số tiền 23.000.000 đồng, trong đó 18.000.000 đồng để đóng bảo hiểm và 5.000.000 đồng mượn thêm để tiêu dùng cho gia đình. Vợ chồng bà H đã nhiều lần yêu cầu bà M trả nợ, tuy nhiên bà M hứa hẹn nhưng không trả tiền.
Nay, bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Xuân Tr khởi kiện buộc bà Phạm Thị M và ông Bùi Văn Cảnh có trách nhiệm thanh toán số tiền gồm: Tiền nợ gốc 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng), tiền lãi tính từ ngày 11/12/2021 đến ngày 14/4/2025 với mức lãi suất 10%/năm là 7.800.833 đồng (Bảy triệu tám trăm nghìn tám trăm ba mươi ba đồng). Tổng cộng số tiền phải trả là 30.800.833 đồng (Ba mươi triệu tám trăm nghìn tám trăm ba mươi ba đồng).
* Ngày 20/5/2025, bà Hoàng Thị Bích Ng có đơn đính chính thông tin nhân thân xác định lại tên của bị đơn ông Bùi Văn Cảnh là Bùi Quang C.
* Tại bản tự khai ngày 21/5/2025, bà Hoàng Thị Bích Ng trình bày: Tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bà Phạm Thị M và ông Bùi Quang C phải trả là 29.937.808 đồng (Hai mươi chín triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm lẻ tám đồng), gồm: Tiền nợ gốc là 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 16/5/2022 đến ngày 21/5/2025 với mức lãi suất 10%/năm là 6.937.808 đồng (Sáu triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm lẻ tám đồng).
Ngoài ra, sau phiên tòa xét xử sơ thẩm đến ngày bản án có hiệu lực mà bị đơn không tự nguyện trả tiền cho nguyên đơn thì bị đơn phải chịu lãi với mức lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015 trên khoản tiền nợ còn phải trả tính từ ngày có bản án sơ thẩm có hiệu lực đến ngày thanh toán xong khoản nợ cho nguyên đơn.
- Tại các bản tự khai ngày 25/3/2025, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Tr là ông Nguyễn Xuân Q, bà Nguyễn Thị Thanh Th, bà Nguyễn Thị Thùy Tr1, ông Nguyễn Xuân Đ, bà Nguyễn Thị Xuân Th1 trình bày: Các ông, bà thống nhất từ chối nhận toàn bộ quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ khác trong vụ án này, giao toàn bộ quyền tài sản cùng với quyền và nghĩa vụ khác liên quan đến vụ án cho bà H quyết định.
Tại bản tự khai ngày 08/5/2025, bà Hoàng Thị Bích Ng và bà Nguyễn Ngọc Bảo K là người đại diện hợp pháp của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Tr là ông Nguyễn Xuân Q, bà Nguyễn Thị Thanh Th, bà Nguyễn Thị Thùy Tr1, ông Nguyễn Xuân Đ, bà Nguyễn Thị Xuân Th1 thống nhất trình bày: Thống nhất ý kiến với những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Tr về việc họ từ chối nhận toàn bộ quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ khác (bao gồm quyền nhận hoàn trả tiền tạm ứng án phí) trong vụ án và giao toàn bộ quyền tài sản, cùng với quyền và nghĩa vụ khác liên quan đến vụ án nêu trên cho nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H.
- Bị đơn bà Phạm Thị M và ông Bùi Quang C trong suốt quá trình tố tụng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu phản tố và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh:
+ Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn đồng thời là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Tr; bà Hoàng Thị Bích Ng, bà Nguyễn Ngọc Bảo K là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đồng thời là người đại diện hợp pháp của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Tr là ông Nguyễn Xuân Q, bà Nguyễn Thị Thanh Th, bà Nguyễn Thị Thùy Tr1, ông Nguyễn Xuân Đ, bà Nguyễn Thị Xuân Th1 chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn bà Phạm Thị M, ông Bùi Quang C đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào ngày 05/5/2025 và ngày 21/5/2025 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.
Ngày 20/5/2025, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Hoàng Thị Bích Ng có đơn đính chính thông tin nhân thân xác định lại tên của bị đơn ông Bùi Văn Cảnh là Bùi Quang C. Theo xác minh của Tòa án thì thông tin của chồng bà Phạm Thị M là ông Bùi Quang C. Vì vậy, việc đính chính thông tin của nguyên đơn là phù hợp.
+ Về nội dung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, giữa nguyên đơn và bị đơn có quan hệ mượn tiền theo Giấy mượn tiền ngày 10/12/2021, số tiền đã mượn là 23.000.000 đồng. Theo Giấy mượn tiền, số tiền mượn được ghi để mua bảo hiểm, là để chăm sóc sức khỏe cho bà M, như vậy, mục đích phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình, do đó, đây là khoản nợ chung của bà M, ông C. Những người kế thừa quyền nghĩa vụ của nguyên đơn ông Tr thống nhất từ chối nhận toàn bộ quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ khác trong vụ án này, giao toàn bộ quyền tài sản cùng với quyền và nghĩa vụ khác liên quan đến vụ án cho bà H quyết định. Như vậy, bà M, ông C có trách nhiệm trả nợ cho bà H.
Về lãi suất: Giấy mượn tiền không thỏa thuận lãi suất, hẹn góp 150.000 đồng/ngày, như vậy đây là hợp đồng vay không có lãi suất, có kỳ hạn. Nguyên đơn yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 10%/năm là phù hợp, cần chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn đồng thời là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Tr; bà Hoàng Thị Bích Ng, bà Nguyễn Ngọc Bảo K là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đồng thời là người đại diện hợp pháp của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Tr là ông Nguyễn Xuân Q, bà Nguyễn Thị Thanh Th, bà Nguyễn Thị Thùy Tr1, ông Nguyễn Xuân Đ, bà Nguyễn Thị Xuân Th1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn bà Phạm Thị M, ông Bùi Quang C đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào ngày 05/5/2025 và ngày 21/5/2025 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
Về tư cách tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Tr chết ngày 28/02/2025 theo Giấy chứng tử số 08/2025 ngày 07/3/2025. Theo bản tường trình quan hệ nhân thân; bản sao Giấy chứng tử số 26/2010, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã Đ cấp ngày 25/10/2010 và bản sao Giấy khai sinh số 473 ngày 14/12/2018 của ông Nguyễn Xuân Tr do nguyên đơn nộp, thì mẹ ông Tr là bà Nguyễn Thị B3 và cha là ông Nguyễn Tr3 đã chết. Như vậy, căn cứ vào 05 bản sao Giấy khai sinh do Ủy ban nhân dân xã Đ cấp và Giấy chứng nhận kết hôn số 235, quyển số 01 ngày 28/02/1989 do Ủy ban nhân dân xã Đ cấp thì hàng thừa kế thứ nhất của ông Tr gồm vợ là bà Nguyễn Thị H và 05 người con ruột là ông Nguyễn Xuân Q, bà Nguyễn Thị Thanh Th, bà Nguyễn Thị Thùy Tr1, ông Nguyễn Xuân Đ, bà Nguyễn Thị Xuân Th1. Do đó, Tòa án đưa những người này vào tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Tr.
Về thay đổi thông tin đương sự: Ngày 20/5/2025, bà Hoàng Thị Bích Ng có đơn đính chính thông tin nhân thân xác định lại tên của bị đơn ông Bùi Văn Cảnh là Bùi Quang C.
Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện buộc bà Phạm Thị M và ông Bùi Quang C phải thanh toán số tiền 29.937.808 đồng (Hai mươi chín triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm lẻ tám đồng), gồm: Tiền nợ gốc là 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 16/5/2022 đến ngày 21/5/2025 với mức lãi suất 10%/năm là 6.937.808 đồng (Sáu triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm lẻ tám đồng).
Nộp kèm là Bản chính Giấy mượn tiền ngày 10/12/2021.
Theo Giấy mượn tiền ngày 10/12/2021 do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án thể hiện nội dung: Bà Phạm Thị M, sinh 01.5.1969, số căn cước W, hiện ở tổ V3, khu phố X3, thị trấn Đ4, huyện Đ1, tỉnh B. chồng Bùi Văn Cảnh 20.10.1966. Nay có mượn của bà Nguyễn Thị H số tiền 18.000.000 đồng để đóng bảo hiểm còn mượn thêm là 5.000.000 đồng, tổng cộng 02 lần là 23.000.000 đồng, hứa đóng đủ hàng ngày 150.000 đồng. Bà Phạm Thị M đã ký tên và ghi đã đồng ý như trên, ngày ghi 10/12/2021.
Căn cứ vào Giấy mượn tiền trên cùng lời trình bày của đại diện nguyên đơn thì giữa hai bên có quan hệ mượn tiền, số tiền cho mượn là 23.000.000 đồng.
Xét thấy quá trình tố tụng, bị đơn bà M, ông C không đến Tòa án làm việc, không xuất trình được chứng cứ gì về số tiền nợ cũng như không có bất kỳ ý kiến nào về việc không thừa nhận chữ ký và chữ viết trong các giấy tờ là của bị đơn, mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập đến làm việc và có ban hành Giấy yêu cầu cung cấp chứng cứ gửi cho bị đơn.
Theo Biên bản xác minh ngày 16/5/2025 tại Công an thị trấn Đ4 được cung cấp như sau: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1969 và ông Bùi Quang C, sinh năm 1966 là vợ chồng có đăng ký thường trú và sinh sống tại tổ V3, khu phố X3, thị trấn Đ4, huyện Đ1, tỉnh B.. So với thông tin trong Giấy mượn tiền, tên ông C là Bùi Văn Cảnh. Tuy nhiên, về thông tin quan hệ vợ chồng với bà Phạm Thị M, năm sinh của ông C và địa chỉ nơi cư trú thì hoàn toàn trùng khớp với Giấy mượn tiền. Như vậy, có thể xác định, việc nguyên đơn có yêu cầu thay đổi thông tin cá nhân của bị đơn ông C từ tên Bùi Văn Cảnh thành Bùi Quang C là có căn cứ và phù hợp.
Xét thấy quá trình tố tụng, mặc dù ông C không đến tòa án làm việc, không có ý kiến gửi đến Tòa án và giấy mượn tiền do một mình bà M ký kết, nhưng căn cứ vào nội dung giấy mượn tiền thì mục đích mượn tiền để mua bảo hiểm, như vậy, số tiền mượn dùng để chăm sóc sức khỏe cho một trong những thành viên trong gia đình, là nhu cầu thiết yếu của gia đình. Từ đó có căn cứ xác định đây là khoản nợ chung của vợ chồng bà M, ông C theo quy định tại Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, do đó, trách nhiệm trả tiền nợ thuộc về cả hai vợ chồng bà M, ông C.
Như vậy, thực tế giữa nguyên đơn và bà M, ông C có việc mượn số tiền gốc là 23.000.000 đồng.
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân Tr là ông Nguyễn Xuân Q, bà Nguyễn Thị Thanh Th, bà Nguyễn Thị Thùy Tr1, ông Nguyễn Xuân Đ, bà Nguyễn Thị Xuân Th1 đều trình bày từ chối nhận toàn bộ quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ khác trong vụ án này, giao toàn bộ quyền tài sản cùng với quyền và nghĩa vụ khác liên quan đến vụ án cho bà H quyết định.
Như vậy bà M, ông C có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng) cho bà H là phù hợp. Từ đó có căn cứ xác định, việc bà H, ông Tr khởi kiện yêu cầu bà M, ông C thanh toán số tiền nợ là có cơ sở theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về lãi suất: Giấy mượn tiền ngày 10/12/2021 không thỏa thuận tính lãi, ghi góp theo ngày, từ đó có thể tính toán được ngày thanh toán hết số tiền mượn. Như vậy, đây là quan hệ vay tiền không có lãi suất, có kỳ hạn. Bị đơn bà M, ông C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do đó, việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi sau khi hết kỳ hạn là phù hợp.
Số tiền 23.000.000 đồng mượn ngày 10/12/2021, mỗi ngày góp 150.000 đồng, như vậy thời gian góp là 154 ngày từ ngày 11/12/2021, ngày hết hạn góp là ngày 15/5/2022. Lãi suất sẽ được tính từ ngày 16/5/2022 với mức lãi suất 10%/năm. Người đại diện nguyên đơn xác định số tiền lãi tính từ ngày 16/5/2022 đến ngày 21/5/2025 (là 1.101 ngày) với mức lãi suất 10%/năm là 6.937.808 đồng (Sáu triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm lẻ tám đồng).
Mức lãi suất này là phù hợp với quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, vì vậy có cơ sở chấp nhận.
Về tạm ứng án phí: Thời điểm đóng tạm ứng án phí, bà H và ông Tr cùng đóng. Tuy nhiên, ngày 28/02/2025, ông Tr chết. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Tr cùng người đại diện hợp pháp của họ trình bày từ chối nhận toàn bộ quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ khác (bao gồm quyền nhận hoàn trả tiền tạm ứng án phí) trong vụ án và giao toàn bộ quyền tài sản, cùng với quyền và nghĩa vụ khác liên quan đến vụ án nêu trên cho nguyên đơn bà H. Vì vậy, tiền tạm ứng án phí sẽ được trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị M, ông Bùi Quang C phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 74, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Các Điều 357, 463, 466, 468, Điều 614 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Xuân Tr đối với bị đơn bà Phạm Thị M, ông Bùi Quang C về Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Buộc bà Phạm Thị M, ông Bùi Quang C có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị H số tiền 29.937.808 đồng (Hai mươi chín triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm lẻ tám đồng), gồm: Tiền nợ gốc là 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng), tiền lãi với mức lãi suất 10%/năm là 6.937.808 đồng (Sáu triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm lẻ tám đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Phạm Thị M, ông Bùi Quang C phải chịu 1.497.000 đồng (Một triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị H toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 751.000 đồng (Bảy trăm năm mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005160 ngày 05 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự (4); - VKSND huyện Đức Linh (1); - CC THADS huyện Đức Linh (1); - TAND tỉnh Bình Thuận (1); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thị Mỹ Dung |