- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHAN CHI T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày 28-02-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quang Nghĩa
2. Ông Lê Tịnh Thới
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Huy - Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Chí T; Tên gọi khác: Không.
Giới tính: Nam; Sinh năm 1984 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12.
Con ông Phan Như T1, sinh năm 1956 (chết) và bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1959.
Vợ: Trần Thị Diệu T2, sinh năm 1986.
Con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2023 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phan Chí T là người nghiện ma túy từ năm 2020 đến nay. Vào khoảng 20 giờ, ngày 28/10/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, T đi đến khu vực C xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai tìm gặp một người nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) mua được một gói ma túy đá với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà tại ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T điện thoại cho Trần Bạch Nhật T3 để chở T đến tiệm Internet để chơi game. Khi đi, T cầm theo gói ma tuý đá trên tay nhưng không nói cho T3 biết. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 29/10/2023, T3 đang chở T trên đoạn đường Q thuộc ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an xã X tuần tra yêu cầu dừng xe kiểm tra. Lúc này, T đang cầm ma túy trong lòng bàn tay phải, do lo sợ nên T đã thả ma túy xuống lề đường thì bị Công an xã X phát hiện bắt quả tang đối với Phan Chí T và niêm phong tang vật theo quy định.
* Tại Kết luận giám định số 2417/KL-KTHS, ngày 03/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ: M u tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,2516 gam, loại Methamphetamine.
* Vật chứng vụ án
01 gói nilon hàn kín, kích thước (1,5 x 3)cm bên trong có các hạt tinh thể màu trắng, thu giữ của Phan Chí T. Được niêm phong ký hiệu M.
Tại bản cáo trạng số: 26/CT-VKSXL ngày 11/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố Phan Chí T tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo bản cáo trạng và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Chí T từ 01 năm 04 tháng tù đến 01 năm 08 tháng tù.
Về vật chứng: Xử lý theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Phan Chí T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, vật chứng của vụ án đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào lúc 00 giờ 40 phút ngày 29/10/2023, Công an xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai bắt quả tang Phan Chí T đang có hành vi tàng trữ 01 gói nylon, hàn kín, kích thước (01x3)cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, T khai là ma túy tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Kết quả giám định: M u tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2516 gam, loại Methamphetamine.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã đủ căn cứ để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Phan Chí T đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có con còn nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Vì ma túy là nguyên nhân d n đến những thiệt hại về tài sản, là nguồn lây lan nhiều căn bệnh nguy hiểm, là nguyên nhân gia tăng các loại tội phạm về hình sự, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. [5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án: 01 phong bì được niêm phong sau giám định số 2417/KL-KTHS ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ
Đối với người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho T tại khu vực cây xăng Gia Nguyễn Minh thuộc xã C, huyện X, tỉnh Đồng Nai, do không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.
Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Phan Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phan Chí T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2023.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong sau giám định số 2417/KL-KTHS ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc)
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phan Chí T phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm,
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND T.Đồng Nai; - Công an H.Xuân Lộc; - VKSND H.Xuân Lộc; - CCTHADS H.Xuân Lộc; - Sở Tư pháp T.Đồng Nai; - UBND cấp xã; - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu AV, HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huệ |