vanban.org

Bản án 46/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 05/04/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/04/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Ti p tục tạm gi số tiền 15.000.000 đồng (mư i lăm triệu đồng) bị cáo Phan Văn H đã n p theo biên lai thu tiền số 0004758 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T để đảm bảo thi hành án, bồi thư ng cho các bị hại C, C, C, Chau X. H5 lại cho bị cáo Phan Văn H số tiền 2.000.000 đồng (hai … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Phan Văn H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? luật Hình sự đư c
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
____________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-PT
Ngày 05 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Minh Tâm và bà Nguyễn Ngọc Giao

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Như Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Phan Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã T:

Bị cáo có kháng cáo: Phan Văn H, sinh ngày 19/12/2001 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký h khẩu thư ng trú và ch ở hiện nay: tổ C khóm V, phư ng N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình đ văn hóa: 3/12; giới tính: Nam; Dân t c: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn H1 và bà Nguyễn Thị Hoa N; bị cáo chưa có v , con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 23/6/2023 cho đ n nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Tấn D là Luật sư Công ty L1 chi nhánh P2, tỉnh Kiên Giang; thu c Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: Số B, Tầng A, đư ng N, Khu phố A, phư ng D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt). (Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Hoài N1 kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo trước khi xét xử - Tòa án đã ban hành quyết định đình chỉ. Riêng các bị cáo Nguyễn Phi H2, Lê Vũ H3, Cao Trường V, Trần Minh T, người bị hại và người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, n i dung vụ án đư c tóm t t như sau:

Khoảng 21 gi ngày 02/5/2023, Nguyễn Phi H2 - sinh ngày 31/5/2006 điều khiển xe mô tô chở Lê Vũ H3 - sinh ngày 23/8/2006 chạy ngang đám cưới nhà anh Chau Sóc C (tổ B, khóm T, phư ng N, thị xã T), Phi H2 nẹt pô xe nổ lớn qua lại ngang đám cưới 02 lần, liền bị 02 thanh niên trong đám cưới dùng gh I và ly thủy tinh ném trúng vào ngư i Phi H2 và Vũ H3, nên Phi H2 điều khiển xe đ n nhà của Nguyễn Hoài N1 (N) kể lại vụ việc cho N1, Cao Trư ng V (B), Phan Văn H và Trần Minh T bi t.

Sau đó, Phi H2, Vũ H3, N1, V, H và T thống nhất đ n đánh nhau với nh ng ngư i ở đám cưới. Vũ H3 lấy 01 cây dao x p và 04 cây dao tự ch (01 cây màu đen, 03 cây màu tr ng) mang để trên nền nhà. Vũ H3 cầm 01 cây dao màu tr ng, Phi H2 cầm 01 cây dao màu tr ng, H cầm 01 cây dao màu tr ng và Vũ H3 đưa cho T 01 cây dao x p, riêng V đi vào phòng lấy 01 cây dao tự ch màu đen của mình, còn lại 01 cây dao màu đen để trên nền nhà. Sau đó, N1 điều khiển xe mô tô chở H ngồi gi a, Phi H2 ngồi sau, còn T điều khiển xe mô tô chở Vũ H3 ngồi gi a và Vũ ngồi sau. Đ n nơi, Phi H2, H, Vũ H3 và V m i ngư i cầm 01 cây dao tự ch xông vào đám cưới đánh nhau với nh ng ngư i ở đây, còn N1 và T ngồi trên xe đ i.

Lúc xông vào đám cưới, Vũ H3 dùng dao chém 01 cái trúng lưng anh Chau P và chém 01 cái trúng vào tay anh Chau C1; còn V cầm dao chém 01 cái trúng vào chân phải anh Chau P và chém 01 cái trúng vào tay phải anh Chau X; Phi H2 cầm dao chém 01 cái trúng vào tay trái anh Chau T1. Sau đó, nhóm của Phi H2 bị nh ng ngư i trong đám cưới đánh bỏ chạy, còn V bị nh ng ngư i ở đám cưới đánh ngất xỉu tại hiện trư ng.

Ngoài ra, Nguyễn Phi H2 còn thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho anh Nguyễn Văn H4, cụ thể như sau: Khoảng 17 gi 30 ngày 19/08/2022, anh Nguyễn Văn H4, anh Nguyễn Văn X1 và anh Phạm Phương T2 đang ngồi uống rư u tại quán nước giải khát thu c tổ B, khóm S, phư ng N, thị xã T thì thấy Nguyễn Hoài L và Nguyễn Phi H2 điều khiển xe mô tô chạy ngang nẹt pô, nên anh H4 nhặt lấy 01 khúc cây vuông dài 40cm tại đống củi đứng gi a đư ng chặn L và H2 lại nói chuyện. Thấy bị chặn đư ng, L và H2 d ng lại cách anh H4 khoảng 50 mét, anh H4 đi b lại dùng khúc cây ném về hướng L, H2 nhưng không trúng. L và H2 điều khiển xe đ n sân vận đ ng điện thoại kể lại sự việc cho Nguyễn Hoài N1 và Nguyễn Hoài P1 (em ru t L) bi t.

Sau đó, N1 và P1 chạy xe đ n ch L, H2, rồi tất cả thống nhất đi nói chuyện lý do anh H4 chặn đư ng. Do thấy trong quán có nhiều ngư i, L kêu P1 về lấy cây dao tự ch đưa cho H2 cầm để phòng thân, nên H2 giấu cây dao vào trong áo. Lúc đi L điều khiển xe 67B2-527.43 chở H2, N1 điều khiển xe 67AM-041.59 chở P1. Cách quán khoảng 40m, nhóm d ng xe đi b , H2 đi trước, L và P1 đi k , N1 đi sau cùng. Lúc này, anh H4 trong quán bước ra trên tay cầm cây xà beng bằng kim loại, anh H4 và H2 đứng đối diện nhau nói chuyện, rồi anh H4 dùng cây xà beng đánh H2 trúng tay trái nên H2 rút dao trong áo ra chém 01 cái trúng vào má trái của anh H4, anh X1 thấy vậy liền chạy ra thì L, H2, N1 và P1 bỏ chạy để lại 02 xe mô tô. Xuyên thấy H4 bị thương nên dùng khúc g đập làm hư hỏng xe 67B2-527.43 và xe 67AM-041.59 của N1 và P1, rồi X1 ti p tục dùng bật lửa đốt xe thì đư c can ngăn dập lửa và đưa anh H4 đi bệnh viện điều trị thương tích.

* Bản k t luận giám định tổn thương cơ thể trên cơ thể ngư i sống số 372/23/KLTTCT-TTPY ngày 31/5/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Chau C1. K t luận: Sẹo mặt lưng vòng qua mặt lòng đốt 1 ngón V bàn tay trái kích thước (4.5x0.1)cm, nằm ngang, b s c gọn, có khâu (hai sẹo mổ mặt lòng phía ngón V bàn tay trái kích thước (2.7 x 0.1) cm và (04 x 0.1) cm). Gây: Đứt bán phần gân gấp nông và đứt hoàn toàn gân gấp sâu ngón V bàn tay trái, đã phẫu thuật khâu nối gân; Gãy xương đốt gần ngón V bàn tay trái tương ứng với v t sẹo bên ngoài, điều trị bảo tồn. Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Chau C1 là 07% (bảy phần trăm), do vật s c gây nên.

* Bản k t luận giám định tổn thương cơ thể trên cơ thể ngư i sống số 373/23/KLTTCT-TTPY ngày 31/5/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Chau T1. K t luận: Sẹo mặt trước ngoài vòng ra sau 1/3 dưới cẳng tay trái kích thước (5.5 x 0.2) cm, nằm ngang, lõm, sậm màu, b s c gọn, hai góc nhọn, có khâu. (Sẹo mổ đầu trên kích thước (2.5x0.1) cm, sẹo mổ đầu dưới kích thước (03x0.1)cm). Gây: Gãy dạng đứt 1/3 dưới xương quay trái tương ứng với sẹo bên ngoài, điều trị bảo tồn; Đứt bán phần gân cánh tay quay. Đứt hoàn toàn gân cơ du i c tay quay dài, du i cổ tay quay ng n, gân cơ du i ngón cái dài, dạng ngón cái ng n. Đã phẫu thuật khâu nối gân. Hiện tại ảnh hưởng ít đ n đ ng tác khớp cổ tay. Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Chau T1 là 12% (mư i hai phần trăm), do vật s c gây nên.

* Bản k t luận giám định tổn thương cơ thể trên cơ thể ngư i sống số 374/23/KLTTCT-TTPY ngày 31/5/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Chau P. K t luận: Sẹo vùng lưng trái kích thước (10x0.2)cm, nằm xiên, lõm, hồng, b s c gọn, hai góc nhọn, có khâu: Tỷ lệ 02% (hai phần trăm); Sẹo mặt trước trong 1/3 trên cẳng chân phải kích thước (04x0.2)cm, nằm ngang, hồng, b s c gọn, hai góc nhọn, có khâu. Gây rạn 1/3 trên vỏ xương chày phải tương ứng vứi sẹo bên ngoài, điều trị bảo tồn: Tỷ lệ 03% (ba phần trăm). Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Chau P là 05% (năm phần trăm), do vật s c gây nên.

*Bản k t luận giám định tổn thương cơ thể trên cơ thể ngư i sống số 375/23/KLTTCT-TTPY ngày 31/5/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Chau X. K t luận: Sẹo mặt sau trong 1/3 dưới cẳng tay phải kích thước (07x0.2)cm, nằm xiên, b s c gọn, sẹo lõm, sậm màu, hai góc nhọn, có khâu, (sẹo mổ đầu trên kích thước (2.5x0.1)cm, sẹo mổ đầu dưới kích thước (03x0.1)cm). Gây: Đứt hoàn toàn gân cơ du i cổ tay trụ, cơ du i ngón út, cơ du i ngón trỏ, cơ du i các ngón, cơ du i ngón cái dài, cơ du i ngón cái ng n, cơ dạng ngón cái dài. Đã phẫu thuật khâu nối gân. Hiện tại các ngón vận đ ng tốt, ảnh hưởng ít đ n đ ng tác khớp cổ tay; Rạn 1/3 dưới xương quay và xương trụ phải tương ứng với sẹo bên ngoài. Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Chau X là 12% (mư i hai phần trăm), do vật s c gây nên.

* Bản k t luận giám định số 50/23/TgT ngày 10/02/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Nguyễn Văn H4. K t luận: Gãy ngành lên xương hàm dưới bên trái, điều trị bảo tồn. Tổn thương tuy n mang tai trái, không gây khô miệng. Tổn thương đứt co c n, đã phẫu thuật khâu cơ. Tỷ lệ tổn cơ thể do thương tích gây nên là 16% (mư i sáu phần trăm), do vật s c gây nên.

* Tại Bản k t luận định giá tài sản số 115/KT-HDĐG.TTHS ngày 06/02/2023, của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp huyện T k t luận: Các b phận hư hỏng của xe g n máy biển số 67AM-041.59, nhãn hiệu WAVCTHAILANE, màu sơn Xanh-đen trị giá 870.000 đồng.

* Bản k t luận định giá tài sản số 116/KT-HDĐG.TTHS ngày 06/02/2023, của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp huyện T k t luận: Các b phận hư hỏng của xe mô tô biển số 67B2-527.43, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius RC, màu sơn Tr ng-đen trị giá 800.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã T đã tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phi H2, Lê Vũ H3, Nguyễn Hoài N1, Cao Trư ng V, Phan Văn H và Trần Minh T phạm t i “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 91; Điều 98 và khoản 1 Điều 101 của B luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H2 06 (sáu) năm tù. Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 98 và khoản 1 Điều 101 của B luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Vũ H3 05 (năm) năm tù. Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của B luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N1 05 (năm) năm tù, bị cáo Cao T3 Vũ 06 (sáu) năm tù; bị cáo Phan Văn H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Trần Minh T 05 (năm) năm tù. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/02/2024 bị cáo Nguyễn Hoài N1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đ n ngày 22/02/2024 bị cáo Nguyễn Hoài N1 có đơn xin rút toàn b yêu cầu kháng cáo, ngày 18/3/2024 Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã ban hành Quy t định số 35/2024/HSPT-QĐ đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 79/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hoài N1.

Ngày 06/02/2024, bị cáo Phan Văn H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Văn H vẫn gi nguyên yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã vận đ ng gia đình bồi thư ng thêm cho các bị hại số tiền 15.000.000 đồng như án sơ thẩm đã tuyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị H i đồng xét xử: Về tính h p pháp của đơn kháng cáo, bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên đề nghị H i đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quy t theo trình tự phúc thẩm. Về hành vi phạm t i của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xử phạt các bị cáo với mức hình phạt phù h p, tương xứng tính chất, hành vi phạm t i của t ng bị cáo. Giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Phan Văn H kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và đã vận đ ng gia đình bồi thư ng thêm cho các bị hại số tiền 15.000.000 đồng như án sơ thẩm đã tuyên. Do đó, đề nghị H i đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 khoản 1 Điều 357 B luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn H. Sửa Bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Phan Văn H, có thể giảm cho bị cáo t 06 tháng đ n 01 năm tù.

Ông Huỳnh Tấn D là người bào chữa cho bị cáo có ý kiến trình bày: Không có ý ki n tranh luận về t i danh. Về phần hình phạt, đề nghị H i đồng xét xử có xem xét bị cáo mặc dù là đồng phạm nhưng bị cáo bị lôi kéo, chưa gây thương tích cho các bị hại, bị cáo thu c thành phần nhân dân lao đ ng, học vấn thấp, chưa có tiền án, tiền sự, đã ăn năn hối cải, trong giai đoạn điều tra bị cáo đã tác đ ng gia đình n p 2.000.000 đồng để kh c phục hậu quả và sau khi có án sơ thẩm bị cáo đã tác đ ng gia đình bồi thư ng xong số tiền cho các bị hại. Bị cáo có nhiều tình ti t giảm nhẹ nhưng án sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức án quá nặng. Do vậy, đề nghị H i đồng xét xử xem xét, áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 để xử phạt bị cáo với mức hình phạt t 03 năm đ n 03 năm 06 tháng tù cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên đư c H i đồng xét xử chấp nhận để xét xử phúc thẩm.

Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Văn H th a nhận thực hiện hành vi phạm t i như n i dung bản án sơ thẩm. Xét l i khai nhận t i của bị cáo hoàn toàn phù h p với l i khai của các bị cáo khác, các bị hại, ngư i làm chứng trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đồng th i cũng phù h p với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Khoảng 21 gi ngày 02/5/2023, tại đám cưới nhà anh Chau Sóc C thu c tổ B, khóm T, phư ng N, thị xã T, do bị 02 thanh niên trong đám cưới ném gh inox và ly thủy tinh trúng ngư i khi Nguyễn Phi H2 và Lê Vũ H3 02 lần nẹt pô xe nổ lớn chạy ngang qua đám cưới nên các bị cáo Nguyễn Phi H2, Lê Vũ H3, Nguyễn Hoài N1, Cao Trư ng V, Phan Văn H và Trần Minh T đã có hành vi dùng dao tự ch chém gây thương tích cho Chau Chanl với tỷ lệ tổn thương cơ thể 07%, anh Chau T1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%, anh Chau P với tỷ lệ tổn thương cơ thể 05% và anh Chau X với tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%. Ngoài ra, ngày 18/9/2022, tại quán nước giải khát thu c tổ B, khóm S, phư ng N, thị xã T, do bị anh Nguyễn Văn H4 dùng cây ném khi Nguyễn Phi H2 nẹt pô xe chạy ngang nên bị cáo Nguyễn Phi H2 đã có hành vi dùng dao tự ch chém gây thương tích cho anh Nguyễn Văn H4 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 16%. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Phi H2, Lê Vũ H3, Nguyễn Hoài N1, Cao Trư ng V, Phan Văn H và Trần Minh T về t i “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 3 Điều 134 B luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngư i, đúng t i và đúng pháp luật.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phan Văn H, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, các bị cáo thực hiện hành vi phạm t i với l i cố ý. Hành vi phạm t i của các bị cáo đã xâm phạm đ n tính mạng, sức khỏe của con ngư i đư c pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự, an toàn tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Trong vụ án này, gi a các bị cáo với các bị hại không hề có mâu thuẫn, cả hai vụ việc xảy ra đều xuất phát t việc bị cáo Phi H2 chạy xe nẹt pô, gây bức xúc cho các bị hại. Lẽ ra, bị cáo Phi H2 phải nhận thức đư c việc làm sai trái của mình, nhưng ngư c lại bị cáo đã tìm đ n các bị cáo khác để nh sự giúp đỡ, chuẩn bị hung khí và tìm đ n đánh trả thù. Hậu quả t hành vi phạm t i của các bị cáo không nh ng trực ti p xâm hại sức khỏe các bị hại mà còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương, thể hiện sự liều lĩnh, coi thư ng pháp luật. Đối với Phan Văn H, bị cáo chỉ gi vai trò thứ y u, không trực ti p gây ra thương tích cho ngư i bị hại, là ngư i giúp sức về mặt tinh thần, ti p nhận ý chí, mang theo hung khí, ủng h tinh thần để các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm t i. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình biên nhận đã n p số tiền 15.000.000 đồng như án sơ thẩm đã tuyên, thể hiện thái đ tích cực chấp hành pháp luật, ăn năn hối cải. Do vậy, H i đồng xét xử có cân nh c, xem xét giảm cho bị cáo m t phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với ngư i phạm t i thực sự ăn năn hối cải như đề xuất của Kiểm sát viên và ngư i bào ch a cho bị cáo tại phiên tòa.

Về biện pháp tư pháp: Trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã vận đ ng gia đình n p số tiền 2.000.000 đồng để kh c phục cho các bị hại và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo ti p tục vận đ ng gia đình n p số tiền 15.000.000 đồng để bồi thư ng cho các bị hại theo như bản án sơ thẩm đã tuyên. Do đó, cần ti p tục tạm gi số tiền 15.000.000 đồng gia đình bị cáo đã giao n p để đảm bảo thi hành án, bồi thư ng cho các bị hại và hoàn lại cho bị cáo số tiền th a 2.000.000 đồng.

Đối với Nguyễn Văn X1 có hành vi dùng cây đập làm hư hỏng xe mô tô biển số 67AM-041.59 của Nguyễn Hoài N1 (định giá 870.000 đồng) và xe mô tô biển số 67B2-527.43 của Nguyễn Hoài P1 (định giá 800.000 đồng); chưa đ n mức truy cứu trách nhiệm hình sự do đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T chuyển xử lý hình chính là đúng quy định.

Đối với các đối tư ng đã cùng đi theo bị cáo Nguyễn Phi H2 trong sự việc bị cáo Phi H2 gây thương tích cho anh Nguyễn Văn H4 xảy ra ngày 19/8/2022 tại quán nước giải khát thu c tổ B, khóm S, phư ng N, thị xã T. Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa điều tra, làm rõ đ ng cơ, mục đích cũng như vai trò, trách nhiệm của các đối tư ng này là thi u sót. Tuy nhiên, việc này cũng không làm thay đổi vai trò, trách nhiệm cũng như không ảnh hưởng đ n t i danh và việc quy t định mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Phi H2 hay các bị cáo khác nên không nhất thi t phải hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại mà chỉ cần ki n nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra ti p tục điều tra, làm rõ để xử lý, tránh bỏ lọt t i phạm.

Về án phí: Do kháng cáo đư c chấp nhận nên bị cáo Phan Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quy t định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể t ngày h t th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 B luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phan Văn H. Sửa án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Phan Văn H.

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 54 B luật Hình sự đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm t i “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày b t tạm gi , tạm giam (ngày 23/6/2023).

Ti p tục tạm gi số tiền 15.000.000 đồng (mư i lăm triệu đồng) bị cáo Phan Văn H đã n p theo biên lai thu tiền số 0004758 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T để đảm bảo thi hành án, bồi thư ng cho các bị hại C, C, C, Chau X. H5 lại cho bị cáo Phan Văn H số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 004652 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T.

Bị cáo Phan Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quy t định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể t ngày h t th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.

Cỡ chữ