- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2023/ST-HNGĐ Ngày 30/3/2023 “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Minh Tuấn.
2. Bà Võ Thị Hồng Long.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 169/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXX-ST, ngày 02 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1975 – Có mặt.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1977 - Vắng mặt.
Đều có địa chỉ: Thôn V H, xã B K, huyện Con Cuông, Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh Bùi Văn H trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị T chung sống như vợ chồng từ năm 1995 đến ngày ngày 21/5/2004 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã B K, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2021 thì xẩy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, nguyên nhân do tính cách và lối sống không phù hợp, chị T tự ý bỏ nhà đi. Anh H đã nhiều lần cố gắng liên lạc với chị, nhờ gia đình chị động viên để chị trở về đoàn tụ nhưng chị T không nhất trí. Quá trình xẩy ra mâu thuẫn đã được hai gia đình cũng như chính quyền nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn nên anh Hóa làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 người con chung tên là Bùi Văn T, sinh ngày 18/9/1995, Bùi Thị B, sinh ngày 08/02/1997 và Bùi Thị H, sinh ngày 24/7/2003. Hiện nay các con đã đủ tuổi trưởng thành, có công việc và gia đình riêng ổn định.
Về tài sản chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng chị .
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm chị Nguyễn Thị T đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56; Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn ly hôn của anh Bùi Văn H. Buộc anh Bùi Văn H và chị Nguyễn Thị T chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về tài sản chung của vợ chồng anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí anh Bùi Văn H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại thôn Vĩnh Hoàn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân của anh H và chị T tại UBND xã B K cho biết, sau khi đăng ký kết hôn anh H và chị T sinh sống tại thôn V H, xã B K, huyện Con Cuông, thời gian chung sống có phát sinh nhiều mâu thuẫn. Xác minh tại Công an xã B K cho biết hiện nay chị T không có mặt ở địa phương, chị đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì chị T không khai báo cắt thường trú. Như vậy, bị đơn đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị T đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và kết quả; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị T không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét thấy anh Bùi Văn H và chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn vào ngày 21/5/2004 tại UBND xã B K, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Văn H và chị Nguyễn Thị T là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, anh Hóa và chị Tuệ chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian dài đến năm 2021 phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ đó đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy anh Bùi Văn H và chị Nguyễn Thị T đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.
Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị T vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho biết: Quá trình kết hôn và chung sống vợ chồng anh Bùi Văn H và chị Nguyễn Thị T có nhiều mâu thuẫn và đã ly thân từ 2021 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tại chị T không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì chị T không khai báo cắt thường trú. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh Bùi Văn H và chị Nguyễn Thị T không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho anh Bùi Văn H ly hôn chị Nguyễn Thị T
Về con chung: Vợ chồng anh Bùi Văn H và chị Nguyễn Thị T có 03 Bùi Văn T, sinh ngày 18/9/2005, Bùi Thị B, sinh ngày 08/02/1997 và Bùi Thị H, sinh ngày 24/7/2003. Hiện nay các con đã đủ tuổi trưởng thành, có công việc và gia đình riêng ổn định nên anh không có ý kiến gì.
Về tài sản chung: Anh Bùi Văn H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau nay chị T có khởi kiện thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Anh Bùi Văn H phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Bùi Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Anh Bùi Văn H và chị Nguyễn Thị T chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, anh Bùi Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp 300.000 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000858 ngày 02/12/2022. Anh H đã nộp đủ án phí ly hôn.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã B K; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Bảo |