vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 21/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án 21/3/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LĐ
Bản án số: 46/2023/HS-ST
Ngày: 21 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL - tỉnh LĐ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thái Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án thụ lý số 66/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐXXST - HS ngày 14/3/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn M, sinh năm: 1982, tại: Ninh Thuận; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn An Xuân 2, xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, Tỉnh Ninh Thuận; nơi cư trú: Tổ 10, thôn ĐL, xã XT, thành phố ĐL, tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Không giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn B (đã chết) và bà: Phạm Thị M, sinh năm:1952; vợ: Lê Thị Thuỳ D, sinh năm: 1977; có 01 người con sinh năm: 2013; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày: 09/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Thành phố ĐL.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm: 1958; chức vụ: Công an viên thôn ĐL, xã XT, Tỉnh LĐ; địa chỉ: Tổ 2, Thôn Đa Quý, xã XT, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

- Người làm chứng:

1. Bà Lê Thị Thuỳ D, sinh năm: 1977; địa chỉ: Tổ 10, thôn ĐL, xã XT, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

2. Ông Ngô Văn Ng, sinh năm: 1973; địa chỉ: Tổ 10, thôn ĐL, xã XT, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

3. Anh Ngô Văn H, sinh năm: 2000; địa chỉ: Tổ 10, thôn ĐL, xã XT, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

4. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1950; địa chỉ: Tổ 10, thôn ĐL, xã XT, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

5. Bà Nghiêm Thu Phương, sinh năm: 1979; địa chỉ: Tổ 10, thôn ĐL, xã XT, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

(Bị cáo có mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều có mặt).

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 09/02/2023, Nguyễn Văn M đi uống rượu ở nhà bạn tại thôn ĐL, xã XT, thành phố ĐL. Đến khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, trên đường đi bộ về nhà, M gặp chị Lê Thị T D (vợ M), thấy M đã say nên chị D đưa M về nhà. Khi về đến nhà, M không nghe lời chị D đi vào nhà mà vùng vằng, lao vào tường. Lúc này, ông Ngô Văn Ng đi xe máy ngang qua, M gây sự và đánh ông Ng, con Trai ông Ng là Ngô Văn H nhìn thấy và chạy ra đánh nhau với M.

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, trực ban của Công an xã XT là công an viên Huỳnh Văn T, tới hiện trường vụ việc, khi đi mang trang phục công an và phù hiệu đúng quy định, khi tới nơi hỏi M: “Sao mà đánh nhau vậy M?” M không trả lời và tiếp tục chửi bới và lao vào đánh nhau. Đồng chí T vòng tay qua vai M yêu cầu M dừng hành vi đánh nhau nhưng M không chấp hành và dùng tay đấm hai cái trúng vào vùng gáy và cổ của đồng chí T. Đồng chí T khống chế M thì M vùng vẫy, chống cự, đẩy đồng chí T vào tường, dùng tay cào vào cánh tay phải của đồng chí T. Lúc đó, thượng úy Nguyễn Văn T tới hiện trường cùng với đồng chí T khống chế M, đưa M về trụ sở.

Tang vật, vật chứng thu giữ: Không.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 76/QĐ-VKSĐL ngày 07/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Nguyễn Văn M khai nhận, khoảng 12 giờ 00 ngày 09/02/2023, tại tổ 10, thôn Đa Thọ, xã XT, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ, do uống rượu say không kiềm chế được bản thân, M đã gây sự, đánh nhau với người khác, khi tổ trực ban Công an xã XT có mặt tại hiện trường yêu cầu M dừng hành vi đánh nhau gây rối nhưng M không chấp hành mà còn mà còn dùng tay đánh vào sau gáy của người Công an đang thi hành công vụ và đẩy người này vào tường, chống đối, không chấp hành theo yêu cầu của cán bộ Công an đang thực hiện nhiệm vụ như quyết định truy tố là hoàn toàn chính xác; không thắc mắc, khiếu nại gì về quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ Ng quan điểm truy tố theo thủ tục rút gọn đối với bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Chống người thi hành công vụ” và áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 12 (mười hai) đến 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 09/02/2023 đến ngày 21/3/2023.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn M: Vào ngày 09/02/2023, Nguyễn Văn M đi uống rượu ở nhà bạn tại thôn ĐL, xã XT, thành phố ĐL. Đến khoảng hơn 12 giờ 00 cùng ngày, do uống rượu say, không kiềm chế được bản thân, M đã gây sự, đánh nhau với người khác, khi tổ công tác Công an xã XT gồm ông Huỳnh Văn T và ông Nguyễn Văn T là Công An xã XT có mặt tại hiện trường yêu cầu M dừng hành vi đánh nhau gây rối nhưng M không chấp hành mà còn dùng tay đánh vào sau gáy của ông Huỳnh Văn T và đẩy ông T vào tường, dùng tay cào vào cánh tay phải của ông T; chống trả lại người đang thi hành công vụ. Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn M là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ việc dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ nhằm cản trở người thi hành công vụ đang thi hành nhiệm vụ là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi chống đối, dùng vũ lực đánh lại lực lượng thực thi nhiệm vụ. Hành vi của Nguyễn Văn M đã xâm phạm vào hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo, của người có quyền, nghĩa vụ liên quan và của các nhân chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án, có đủ căn cứ kết luận hành vi của Nguyễn Văn M phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự như Quyết định truy tố số 76/QĐ -VKSĐL-LĐ ngày 07/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Về T tiết giảm nhẹ: Do bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên áp dụng điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là T tiết giảm nhẹ khi lượng hình đối với bị cáo là phù hợp.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt; phạm tội lần đấu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt, có địa chỉ ổn định, rõ ràng nên áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung.

Đối với hành vi dùng tay đấm vào gáy và cào vào tay của ông Huỳnh Văn T và hành vi đánh ông Ngô Văn Ng và anh Ngô Văn H do thương tích nhẹ nên ông T, ông Ng và anh H từ chối giám định tỷ lệ thương tật và không yêu cầu bồi thường nên không có cơ sở để xử lý hình sự.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án 21/3/2023.

1.2. Áp dụng khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo Nguyễn Văn M ngay tại phiên toà nếu bị cáo M không bị tạm giam, tạm giữ về hành vi phạm tội nào khác.

Trong thời gian thử thách giao bị cáo Nguyễn Văn M cho Ủy ban nhân dân xã XT, Thành phố ĐL, tỉnh LĐ, nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo M thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

(Đã giải thích chế định án treo)

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ