vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 31/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hùng C phạm tội “Giết người” và “Cướp tài sản”

sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hùng C tử hình về tội “Giết người” và 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hùng Cường phạm tội "Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hùng C phạm tội “Giết người” và “Cướp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 46/2023/HS-ST

Ngày: 31/08/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Tấn Tài. Thẩm phán: Ông Thái Văn Chấn. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Dựng, bà Trần Thị Phương Tám và bà Trần Thị Thủy Trân. Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Huyền, bà Nguyễn Kim Nhuần - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: - Ông Trần Văn Hiền - Kiểm sát viên; - Ông Nguyễn Duy Thuấn - Kiểm sát viên. Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 37/2023/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2023/QĐ-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo: Nguyễn Hùng C, sinh ngày: 03/5/1982; nơi sinh: huyện C, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Ấp Đ, xã A, huyện C, tỉnh Long An; chỗ ở: Nhà trọ “Minh T1” tại số A, đường C, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Mua bán; con ông Nguyễn Hoài T2, sinh năm 1958 và bà Trần Thị Đ, sinh năm 1960; Vợ : Nguyễn Thị Tuyết L (đã chết); Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1985; Sống chung như vợ chồng: Ngô Thị Ngọc D, sinh năm 1983; con: 03 người, lớn sinh năm 2006 và nhỏ sinh năm 2017; Nhân thân: Ngày 17/5/2005, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay thành phố B), tỉnh Bến Tre xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 04/12/2005 đã chấp xong; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Nguyễn Hùng C đang bị tạm giam từ ngày 06/01/2023 đến nay, tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (Có mặt). * Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Thị Bạch X – Văn phòng L3, Đoàn luật sư tỉnh An Giang bào chữa theo chỉ định cho bị cáo Nguyễn Hùng C. (có

mặt) Địa chỉ: số C khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; * Đại diện hợp pháp của bị hại: Võ Thị Cẩm G, sinh năm 1992; (có mặt); Nơi cư trú: tổ A, ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; * Người làm chứng: Đỗ Văn H, sinh năm 1990 (vắng mặt); Võ Thị T3, sinh năm 1964 (có mặt); Võ Văn V, sinh năm 1975 (có mặt); Huỳnh Văn Ẩ, sinh năm 1968 (vắng mặt); Trần Văn H1, sinh năm 1966 (vắng mặt); Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1985 (vắng mặt); Nguyễn Hoài T2, sinh năm 1958 (vắng mặt); Trần Thị Đ, sinh năm 1960 (có mặt); Ngô Ngọc D1, sinh năm 1983 (mặt mặt); Nguyễn Ngọc B, sinh năm 2000; Nguyễn Từ H2, sinh năm 1959 (vắng mặt); Thái Tống Minh T4, sinh năm 1987 (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng giữa tháng 12/2022, Nguyễn Hùng C đến khu vực xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp để mua bán dừa và qua lại cửa khẩu Thường Phước sang Casino ở Vương quốc Campuchia để đánh bạc, dẫn đến nợ nần nên C đã nảy sinh ý định giết chết ông Võ Văn L1 hành nghề chạy xe mô tô chở khách, để chiếm đoạt tài sản là xe mô tô biển số 66G1-364.41 nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ là phương tiện ông L1 sử dụng chở khách hàng ngày. Để thực hiện, khoảng 07 giờ ngày 26/12/2022, C chuẩn bị sẵn 01 cây sắt dẹp dài khoảng 30cm, rộng 04cm, dày 01cm, nặng 01kg có cạnh (tương tự nhíp xe ô tô) để vào ba lô màu đen, rồi sử dụng điện thoại số thuê bao 0899107715 liên lạc thuê ông L1 chở C đi từ chợ T5 đến thành phố C, tỉnh An Giang với giá 500.000 đồng. Trên đường đi, ông L1 có dừng xe ghé nhà em ruột Võ Thị T3, cư trú khóm T, thị trấn T, huyện H trả áo khoác mà ông L1 đã mượn trước đó. Sau đó, C kêu ông L1 tiếp tục chở C đến khu vực Kênh H thuộc xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang là nơi C từng mua bán dừa để mượn tiền, ông L1 tin thật và đã chở C đi theo lộ trình do C hướng dẫn. Khi đến khu vườn mít của Nguyễn Từ H2 và vườn chanh của Nguyễn Ngọc B (cặp vườn mít của ông H2) thuộc ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang thì C kêu ông L1 điều khiển xe đến cuối vườn mít, cách bờ Kênh 8 khoảng 100m thì cả hai dừng lại ngồi uống nước. Tại đây, C tháo ba lô đeo trên người xuống đặt dưới đất và lấy thanh sắt ra cất giấu vào bên hông phải, khi ông L1 đi tiểu mặt hướng về phía vườn chanh, C rút thanh sắt ra cầm bằng tay phải đánh liên tiếp 02 cái từ trên xuống vào sau gáy của ông L1, làm ông L1 té úp mặt xuống đất chết ngay tại chỗ. C lục soát người ông L1 lấy 01 bóp da bên trong có 34.000 đồng, lấy 01 điện thoại di động trong túi áo khoác của ông L1 ném bỏ tại hiện trường, tháo 01 chiếc nhẫn trọng lượng 01 chỉ vàng 24 kara ở ngón áp út bàn tay phải của ông L1, rồi dùng hai tay xốc nách kéo xác ông L1 đến mương nước trong vườn chanh giấu, trong tư thế nằm úp. Sau đó, C lấy xe mô tô biển số

66G1-364.41 của ông L1 điều khiển bỏ trốn, trên đường đi C ném bỏ thanh sắt, nón bảo hiểm và bóp da chiếm đoạt của ông L1 xuống sông khu vực gần chợ T6, huyện T, tỉnh An Giang, rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đến Công an huyện C, tỉnh Long An làm căn cước công dân. Ngày 28/12/2022, C quay về thành phố C thuê phòng trọ số 4, Nhà trọ “Minh T1” tại phường C, thành phố C ở cùng với Ngô Thị Ngọc D. Để tránh bị phát hiện, C mua chai sơn xịt màu đen, thay đổi màu sơn xe từ đỏ sang đen, tháo biển số 66G1-364.41 cất vào cốp xe và gắn biển số 50K1-6456 sử dụng. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/12/2022, Nguyễn Ngọc B đến vườn chanh tại ấp L, xã Ô để tưới nước thì phát hiện xác ông Võ Văn L1 tại mương nước đang trong giai đoạn phân hủy nên Bích trình báo Công an xã Ô. Đến ngày 05/01/2023, C bị phát hiện bắt giữ. Ngày 09/01/2023, C bị khởi tố, tạm giam để điều tra. Tang vật thu giữ gồm có 01 xe mô tô Yamaha Sirius Fi, biển số 66G1 – 364.41, 01 gương chiếu hậu và giấy chứng nhận đăng ký mô tô tên Đỗ Văn H; 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu “4G VOLTE”; biển số 50K1 – 6456; 01 chai sơn xịt áp suất hiệu Win, loại 210 black (màu đen); 01 áo khoác màu đỏ nhạt – xanh; 01 ba lô màu đen, có viền màu cam; 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO và một số đồ vật có liên quan. - Đã trả lại cho Võ Thị Cẩm G (con ruột của bị hại L1) 01 xe môtô Yamaha Sirius Fi, biển số 66G1 – 364.41, 01 gương chiếu hậu và giấy chứng nhận đăng ký mô tô tên Đỗ Văn H; 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu “4G VOLTE” và Ngô Thị Ngọc D 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO. Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 01/23/TT ngày 01/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận đối với Võ Văn L1, sinh năm 1954: 1. Dấu hiệu chính qua giám định: + Tử thi trong giai đoạn phân hủy, toàn thân bong tuột lớp da giấy. + Vết thương hình vòng cung từ chẫm trái đến cổ sau bên trái (đoạn đốt sống C1 – C2), há miệng, dạng vát hướng từ trên xuống, dài 12cm, bờ sắc gọn, hai góc nhọn. Vết thương dính bùn đất, tiến hành lau rửa sạch bùn đất, bầm tụ máu dưới da quanh mép vết thương, thám sát thấy vết thương đứt tới lớp cơ: thương tích do vật có cạnh sắc tác động và vết thương này không thông với ổ gãy cột sống cổ. + Vùng cổ sau bên trái có mảng bầm máu, kích thước (07 x 03)cm, cách dưới sau vành tai trái 10cm, tiến hành rạch da vùng bầm máu thấy bầm máu dưới da và cơ sậm màu. + Bầm tụ máu quanh cột sống cổ (đoạn đốt sống C4 – C5 – C6). + Gãy gai sau đốt sống C4.

+ Vỡ nhiều mãnh thân đốt sống C5 – C6, đứt tủy. 2. Nguyên nhân chết: Chấn thương cột sống cổ: vở nhiều mảnh thân đốt sống C5 - C6 đứt tủy. 3. Kết luận khác: - Cơ chế: chấn thương trực tiếp do vật tày cứng tác động rất mạnh vào vùng cổ gây gãy gai sau đốt sống C4, vỡ nhiều mảnh thân đốt sống C5 – C6, đứt tủy. - Thời gian chết trên 48 giờ. * Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 02.10/KL-HĐĐGTS ngày 29/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh An Giang, kết luận: - Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS FI – 1F8C8; biển kiểm soát 66G-364.41; Số máy: E3T6E272974; Số khung RLCUE1710HY188176. Thời điểm định giá ngày 26/12/2022. Kết luận về tài sản của Hội đồng định giá (đồng): 9.833.333 đồng. - Nhẫn vàng 24K (Loại nhãn trơn, trọng lượng 01 chỉ). Thời điểm định giá ngày 26/12/2022. Kết luận về tài sản của Hội đồng định giá (đồng): 5.280.000 đồng. - Điện thoại di động màu đen, viền trắng, có bàn phím số, sử dụng được 02 sim số, mặt trước có chữ 4G VOLTE, mặt sau có chữ 3D. Thời điểm định giá ngày 26/12/2022. Kết luận về tài sản của Hội đồng định giá (đồng): 326.667 đồng. - Tổng cộng 15.440.000 đồng (Mười lăm triệu, bốn trăm bốn mươi ngàn đồng) * Căn cứ Kết luận giám định số hiệu YAMAHA SIRUS FI – 1F838, 40/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 06/3/2023 và ngày 08/3/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: - Tìm thấy dữ liệu lưu trú trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen, loại bàn phím số, có số IMEI 1: 358408136491688 và số IMEI 2: 358408136491696 (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A gửi giám định, chỉ tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo. Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) Phụ lục gồm 10 trang A4. - Trích xuất 24 (hai mươi bốn) ảnh từ dữ liệu 05 tập tin video lưu trữ trong 04 đĩa DVD (ký hiệu A1, A2, A3, A4) do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A gửi giám định, chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo. Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) Phụ lục gồm 12 trang A4. * Căn cứ Kết luận giám định số 01/KL-KTHS(ĐV-GT) ngày 21/01/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận:

Dấu vân tay của nạn nhân Võ Văn L1, sinh năm 1954 in trên 03 (ba) Chỉ bản lập ngày 01/01/2023 trong vụ Giết người cướp tài sản, phát hiện ngày 31/12/2002, tại ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang, ký hiệu TLCGĐ: A so với dấu vân tay in trên bộ Tờ khai Chứng minh nhân dân, chỉ bản số 341395843, lập ngày 29/3/2004 viết tên Võ Văn L1 (L2), sinh năm 1954, nơi ĐKNKTT: ấp C, T, Hồ N, Đồng Tháp, ký hiệu TLMSS: M là là cùng một người in ra. Tại Cáo trạng số 55/CT-VKSAG-P2 ngày 15 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Hùng C về tội “Giết người”, “Cướp tài sản” theo quy định điểm g khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Hùng C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Người đại diện hợp pháp bị hại, người làm chứng có mặt tại phiên tòa khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Riêng đối với người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận cũng phù hợp với nội dung vụ án. * Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 40; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng C tử hình về tội “Giết người” và từ 02 năm đến 03 năm về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả 02 tội là tử hình. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: - Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 50K1 – 6465 (đã qua sử dụng); 01 gói niêm phong màu trắng, bên ngoài có ghi “Vụ: 38/KL – KTHS(KTSĐT – GT), ngày 08 tháng 03 năm 2023 (Điện thoại gởi giám định)”, có chữ ký, chữ viết mang tên bên giao, bên nhận và dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh A; 01 (một) chai xịt áp suất hiệu Win, loại 210 black (màu đen), thân chai bằng kim loại màu bạc, nắp chai bằng nhựa màu đen (đã qua sử dụng); 01 áo khoác màu đỏ nhạt – xanh (đã qua sử dụng); 01 ba lô màu đen, có viền màu cam, có chữ “H T Huỳnh Thành B1 đồng hành tin cậy” (đã qua sử dụng); 01 quần vải dài, màu xám – trắng (đã qua sử dụng); 01 đôi dép bằng nhựa màu màu đen, có chữ ASIASPORTS (đã qua sử dụng); 01 ví (bóp) da màu nâu (đã qua sử dụng). - Trả lại cho bị cáo: 01 Giấy phép lái xe số P682945, hạng A1, mang tên Nguyễn Hùng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bến Tre cấp ngày 18/11/2003; 01

hộ chiếu P00624561, mang tên Nguyễn Hùng C do Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ công an cấp ngày 14/10/2022 (đã qua sử dụng). Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo trả lại 01 nhẫn vàng trị giá 5.280.000 đồng và 50.000.000 đồng tiền chi phi mai tang và tổn thất tinh thần cho bị hại. Tổng cộng là 55.280.000 đồng. * Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm: Thống nhất với Kiểm sát viên về tội danh, điểm, khoản áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cũng như cơ sở pháp lý áp dụng đối với bị cáo: bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, mẹ già. Do đó, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt là chung thân để bị cáo có cơ hội bù đắp cho phía gia đình bị hại, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp. - Tại phiên tòa, một số người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung. [2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hùng C đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của những người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra, còn phù hợp với Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 01/23/TT ngày 01/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A; Căn cứ Kết luận giám định số 14/KL-KLHS(SH-GT) ngày 12/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh A, Kết luận định giá tài sản số 02.10/KL- HĐĐGTS ngày 29/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh An Giang; Kết luận giám định số 38, 40/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 06/3/2023 và ngày 08/3/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A; Kết luận giám định số 01/KL-KTHS(ĐV-GT) ngày 21/01/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A. Do

đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào ngày 26/12/2022, bị cáo giả vờ thuê L1 chở đi đến thành phố C, tỉnh An Giang với giá 500.000 đồng. Sau đó, bị cáo kêu L1 tiếp tục chở đến khu vực Kênh H thuộc xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang để mượn tiền theo lộ trình do bị cáo hướng dẫn. Khi đến khu vườn mít của Nguyễn Từ H2 và vườn chanh của Nguyễn Ngọc B thuộc ấp L thì bị cáo kêu L1 điều khiển xe đến cuối vườn mít. Tại đây, nhân lúc L1 không chú ý, bị cáo rút thanh sắt đã chuẩn bị trước đó (cây sắt dẹp dài khoảng 30cm, rộng 04cm, dày 01cm, nặng 01kg có cạnh) ra cầm bằng tay phải đánh liên tiếp 02 cái từ trên xuống vào sau gáy của L1, làm L1 té úp mặt xuống đất chết ngay tại chỗ. Sau khi lục soát người Liêm, bị cáo lấy được 01 bóp da bên trong có 34.000 đồng, 01 điện thoại di động và 01 chiếc nhẫn trọng lượng 01 chỉ vàng 24 kara, rồi dùng hai tay xốc nách kéo xác L1 đến mương nước trong vườn chanh giấu, trong tư thế nằm úp. Sau đó, bị cáo lấy xe mô tô của L1 điều khiển bỏ trốn, trên đường đi đã ném bỏ thanh sắt, nón bảo hiểm và bóp da chiếm đoạt của L1 xuống sông khu vực gần chợ T6. Để tránh bị phát hiện hành vi phạm tội, bị cáo mua chai sơn xịt màu đen, thay đổi màu sơn xe từ đỏ sang đen, tháo biển số 66G1-364.41 cất vào cốp xe và gắn biển số 50K1-6456 sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Hùng C đã phạm các tội “Giết người” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123 (có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm tù chung thân hoặc tử hình) và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 (có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm tù) của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. [3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Hùng C là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn bất chấp hậu quả xảy ra và cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bởi vì thua bạc dẫn đến nợ nần nên bị cáo đã nảy sinh ý định giết bị hại để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Để thực hiện hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã lừa ông L1 chở đến nơi vắng vẻ và nhân lúc ông không để ý đã dùng thanh sắt đã chuẩn bị sẵn trước đó đâm 02 nhát từ trên xuống vào sau gáy ông L1 làm ông chết tại chỗ. Sau đó, bị cáo đã chiếm đoạt các tài sản có giá trị của ông, đồng thời bị cáo cũng thực hiện hành vi giấu xác ông đi để hành vi phạm tội của bị cáo không bị phát hiện. Nguyên nhân chết của ông L1 được xác định là Chấn thương cột sống cổ: vở nhiều mảnh thân đốt sống C5 - C6 đứt tủy do vật tày cứng tác động rất mạnh vào vùng cổ. Hành vi của bị cáo là mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng, chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, xem nhẹ tính mạng của người khác. Sau khi phạm tội, bị cáo tỏ ra thản nhiên, đi về

tỉnh Long An làm căn cước công dân, rồi trở về thành phố C thuê phòng trọ sống cùng với chị D xem như không có sự việc gì xảy ra. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của người khác một cách trái pháp luật; gây ra đau thương mất mát cho gia đình bị hại; gây hoang mang dư luận tại địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo là có chủ mưu từ trước và cũng nhằm để thực hiện một tội phạm khác là giết người để cướp tài sản. Sau khi gây án lại giấu xác của nạn nhân để tránh sự phát hiện của mọi người cũng như không ai phát hiện hành vi phạm tội của mình, hành vi của bị cáo giết chết bị hại được thực hiện một cách dã man, côn đồ, không còn nhân tính, nên cần phải có một mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, loại bị cáo vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành mức hình phạt cao nhất là tử hình về tội giết người theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu ngày 17/5/2005, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay thành phố B), tỉnh Bến Tre xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 04/12/2005 đã chấp xong. Chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. [4] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 123 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm” và tại khoản 6 Điều 168 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” Nhưng do bị cáo không có việc làm ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. [5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bà Võ Thị Cẩm G là người đại diện hợp pháp của bị hại hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền tổn thất tinh thần là 40.000.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền mai tang cho bị hại, 01 chiếc nhãn vàng 24k trị giá 5.280.000 đồng, tổng cộng là 55.280.000 đồng, bị cáo cũng đồng ý bồi thường theo yêu cầu. Xét thấy, sự tự nguyện của bị cáo là phù hợp, không vi phạm pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. [6] Đối với:

Ngô Thị Ngọc D không biết C giết chết ông Võ Văn L1 để chiếm đoạt tài sản, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D về hành vi “Không tố giác tội phạm” là có căn cứ. [7] Về vật chứng: - Đối với các vật chứng được thu giữ trong quá trình điều tra không còn giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy. - Đối với 01 Giấy phép lái xe số P682945, hạng A1, mang tên Nguyễn Hùng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bến Tre cấp ngày 18/11/2003; 01 hộ chiếu P00624561, mang tên Nguyễn Hùng C do Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ công an cấp ngày 14/10/2022 cần trả lại cho bị cáo. [8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hùng C phạm tội “Giết người” và “Cướp tài sản” Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 40; Điều 55 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hùng C tử hình về tội “Giết người” và 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là tử hình Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 370, Điều 584, Điều 585; Điều 586; Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường 55.280.000 (Năm mươi lăm triệu hai trăm tám mươi nghìn) đồng cho gia đình bị hại do bà Võ Thị Cẩm G đại diện nhận. - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển số 50K1 – 6465 (đã qua sử dụng); 01 (một) gói niêm phong màu trắng, bên ngoài có ghi “Vụ: 38/KL – KTHS(KTSĐT – GT), ngày 08 tháng 03 năm 2023 (Điện thoại gởi giám định)”, có chữ ký, chữ viết mang tên bên giao, bên nhận và dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh A; 01 (một) chai xịt áp suất hiệu Win, loại 210 black (màu đen), thân chai bằng kim loại màu bạc, nắp chai bằng nhựa màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) áo khoác màu đỏ nhạt – xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) ba lô màu đen, có viền màu cam, có chữ “ H T Huỳnh Thành B1 đồng hành tin cậy” (đã qua sử dụng); 01 (một) quần vải dài, màu xám – trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) đôi dép

bằng nhựa màu màu đen, có chữ ASIASPORTS (đã qua sử dụng); 01 (một) ví (bóp) da màu nâu (đã qua sử dụng). - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) Giấy phép lái xe số P682945, hạng A1, mang tên Nguyễn Hùng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bến Tre cấp ngày 18/11/2003 (đã qua sử dụng); 01 (một) hộ chiếu P00624561, mang tên Nguyễn Hùng C do Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ công an cấp ngày 14/10/2022 (đã qua sử dụng). (Các loại vật chứng được quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang). Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Hùng C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.764.000 (Hai triệu bảy trăm sáu mươi bốn nghìn) đồng. Tổng số tiền án phí buộc bị cáo phải chịu là 2.964.000 (Hai triệu chín trăm sáu mươi bốn nghìn) đồng. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ