vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. An Dương, TP. Hải Phòng Tuyên án 25/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 vam phá khóa (Chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 vam phá khóa (Chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HS-ST
Ngày 25-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Minh

Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chính - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2023/TLST-HS ngày 14/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HS ngày 10/3/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình L sinh ngày 06/02/1990 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Tám và bà Phạm Thị Quý; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 16 ngày 25/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, thời gian chấp hành là 18 tháng. Nguyễn Đình L chấp hành xong ngày 27/11/2021; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 05/02/2023 đến ngày 10/02/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Minh T sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 05/02/2023, Nguyễn Đình L mang theo 01 chiếc vam phá khóa bằng kim loại dài khoảng 07cm, một đầu hình lục năng, một đầu dẹt, mục đích đến khu công nghiệp Tràng Duệ, huyện An Dương lấy trộm xe mô tô. Khi đi ra ngoài cửa thì gặp Bùi Đình C, sinh năm 1999 ở cùng thôn điều khiển xe mô tô (không rõ đặc điểm, biển kiểm soát) đi qua nên đã nhờ anh C chở đến khu công nghiệp Tràng Duệ, anh C đồng ý. Đến nơi, L xuống xe đi bộ vào đường nội bộ khu công nghiệp còn anh C đi về. Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực trạm điện 110K2 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Điện lực Hải Phòng đối diện cổng C Công ty trách nhiệm hữu hạn LG Display, L phát hiện có nhiều xe mô tô dựng bên trong trạm điện, trong đó có xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 16P7-0225 của anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1984, trú tại thôn Quỳnh Hoàng, xã Nam Sơn, huyện An Dương đang dựng ở phía ngoài cùng. L quan sát thấy cổng trạm điện mở, không có người trông coi nên đã đến gần chiếc xe mô tô trên, tay trái cắm vam phá khóa vào ổ khóa, tay phải vặn vam theo chiều kim đồng hồ khoảng 03 lần thì thấy khóa điện mở. L dắt xe lùi về phía sau, rồi quay đầu xe hướng ra đường nội bộ khu công nghiệp Tràng Duệ, ngồi lên xe nổ máy, xe đi được khoảng 20 mét thì bị anh Nguyễn Minh T; anh Lê Văn H, sinh năm 1997, trú tại thôn H, xã A, huyện Ag; anh Trần Văn S, sinh năm 1993, trú tại thôn 1 Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt giữ và bàn giao cho Đồn Công an khu công nghiệp Tràng Duệ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát 16P7-0225 và 01 vam phá khóa.

Tại Kết luận định giá tài sản số 07 ngày 09/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Dương kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha số loại Jupiter màu trắng đen, biển kiểm soát 16P7-0225 chất lượng còn lại của xe là 40%, giá trị định giá là 7.200.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, L khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.

Về vật chứng vụ án gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 16P7-0225 đã trả lại cho anh Nguyễn Minh T. 01 vam phá khóa chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương quản lý.

Về dân sự: Anh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa bị cáo trình bày thống nhất về hành vi như đã nêu trên.

Cáo trạng số 46/2023/CT-VKS ngày 19/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương truy tố bị cáo Nguyễn Đình L về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS). Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của BLHS xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Nói lời sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện; mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật và giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài L trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong quá trình tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Hành vi vào hồi 20 giờ ngày 05/02/2023, tại khu vực trạm điện của Công ty trách nhiệm hữu hạn Điện lực Hải Phòng thuộc khu công nghiệp Tràng Duệ, huyện An Dương, Hải Phòng, Nguyễn Đình L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 16P7-0225 trị giá 7.200.000 đồng của anh Nguyễn Minh T là phạm tội Trộm cắp tài sản vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Các chứng cứ xác định bị cáo không có tội được loại trừ.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; năm 2020 đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên thể hiện nhân thân xấu. Do thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã được ngăn chặn kịp thời nên thiệt hại gây ra không lớn, gia đình bị cáo đang thờ cúng bác ruột Nguyễn Đình Chưởng là liệt sỹ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Về hình phạt: Với phân tích trên, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và xử phạt bị cáo mức án dưới mức khởi điểm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Khoản 5 Điều 173 của BLHS quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, do hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên không áp dụng.

Về vật chứng vụ án gồm: 01 vam phá khóa là vật bị cáo đã dùng thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về những vấn đề khác: Vụ án này không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố vụ án hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự. Bị hại không yêu cầu bồi thường khoản nào khác nên không xét. Đối với Bùi Đình C có hành vi điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Đình L đến khu công nghiệp Tràng Duệ, huyện An Dương nhưng L khai không bàn bạc gì với C về việc trộm cắp tài sản. Hiện C vắng mặt tại nơi cư trú, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Đình L 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 05/02/2023.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 vam phá khóa (Chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ