vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 12/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn H 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 30 (ba mươi) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 37 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Bùi Văn H TCTS. TTTPCMT - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HS-ST
Ngày 12 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu.

2. Bà Hoàng Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2023/TLST - HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn H, sinh ngày 30 tháng 6 năm 1988 tại Thị trấn Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, Thị trấn Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn N (đã chết) và bà: Phạm Thị T (đã chết); Gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là con thứ bảy, chưa có vợ con.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 28/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2020/HS-ST ngày 28/7/2020 (Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/9/2021, chưa thi hành trách nhiệm bồi thường dân sự);

Nhân thân:

- Ngày 28/5/2012, bị Tòa án nhân dân Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xử phạt 25 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 186/2012/HS-ST;

- Ngày 15/12/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 19 tháng;

- Ngày 29/5/2020, bị Công an huyện Yên Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ;

- Ngày 28/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 17 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội là 37 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2022/HS-ST (Bị cáo chưa chấp hành bản án).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/11/2022 đến ngày 24/11/2022 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1970 (Vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 (Vắng mặt).

Đều ở tại: Tổ dân phố Q, TT Y, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

3. Anh Võ Văn L, sinh năm 1983 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T 2, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

4. Anh Trịnh Xuân Q, sinh năm 1976 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Đỗ Hữu G1, sinh năm 1974 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

2. Ông Trần Văn N, sinh năm 1962 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

1. Anh Trần Ngọc D, sinh năm 1991 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố B, TT Y, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

2. Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1987 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố Đông Sơn, TT Y, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

3. Anh Đặng Hồng S, sinh năm 1996 (Vắng mặt).

4. Chị Tống Thị T, sinh năm 1996 (Vắng mặt).

Đều ở tại: Khu phố Giáng, TT V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.

5. Anh Nguyễn Huy Kiên, sinh năm 1976 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Lạc Trung, xã Yên Trung, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

6. Anh Võ Văn Tuấn, sinh năm 1988 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T 2, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

7. Chị Trịnh Thị M, sinh năm 1979 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn 2, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

8. Ông Trịnh Xuân P1, sinh năm 1958 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

9. Ông Đàm Quang S, sinh năm 1968 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Thạc Qủa, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Người chứng kiến:

1. Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1991 (Vắng mặt).

2. Chị Lê Thị L, sinh năm 1982 (Vắng mặt).

Đều ở địa chỉ: Thôn Thạc Qủa, xã Y, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 15/11/2022, tổ công tác Công an huyện Yên Định làm nhiệm vụ tại địa phận thôn Thạc Qủa, xã Y, huyện Yên Định, phát hiện Bùi Văn H có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã yêu cầu dừng xe và kiểm tra phát hiện tại túi quần bò bên phải của Hiếu đang mặc có 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 02 gói giấy màu trắng có chứa các cục chất bột màu trắng ngà. Hiếu khai nhận là ma túy, loại heroin, Hiếu mua của một người đàn ông không rõ họ tên, tuổi và địa chỉ ở huyện V, tỉnh Thanh Hóa để sử dụng. Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Văn H về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, niêm phong vật chứng, thu giữ các tang vật liên quan (BL 125 – 172).

Tại bản kết luận giám định số 4065/PC09 ngày 21/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các cục chất bột màu trắng ngà trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,155g, loại heroin (BL 236).

Qúa trình điều tra, còn chứng minh Bùi Văn H thực hiện một số vụ trộm cắp tài sản như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 09 giờ ngày 04/11/2022, Bùi Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen, không có biển kiểm soát đi từ đường bờ kênh Cửa Đạt, đến trước cổng gia đình nhà chị Nguyễn Thị G, ở tổ dân phố Q, thị trấn Y, huyện Yên Định tìm tài sản trộm cắp. Hiếu dựng xe mô tô ngoài đường rồi đi bộ vào trong nhà, thấy trong nhà không có ai, cửa nhà không khóa, Hiếu vào trong nhà trộm cắp 01 chiếc ti vi nhãn hiệu Samsung 50inch. Sau khi trộm cắp được, Hiếu lên xe để tẩu thoát. Cùng ngày, Hiếu đã bán chiếc ti vi cho anh Đỗ Hữu G1, ở thôn L, xã Y (là người sửa chữa đồ điện tử) được số tiền 150.000đ chi tiêu cá nhân (BL số 186 – 203).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Định, giá trị tài sản bị trộm cắp của gia đình chị Giang là 4.800.000đ (BL số 252).

Vụ thứ hai: Khoảng 08 giờ ngày 15/11/2022, sau khi mua ma túy ở huyện V về, Hiếu đi xe mô tô xuống trạm bơm Nam Sông Mã thuộc xã Y, huyện Yên Định rẽ trái xuống đường bờ kênh, đi được khoảng 300m thì thấy nhà anh Trịnh Xuân Q, sinh năm 1976, ở thôn L, xã Y, huyện Yên Định đang chốt ngang cửa cổng phía trong, cửa nhà mở nên Hiếu đã vào nhà trộm cắp 01 con chó màu lông đen xám, nặng khoảng 4kg (loại chó cỏ) và 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6S, mặt sau màu vàng gold, không có sim. Sau khi trộm cắp được, Hiếu đem con chó ra chợ Kiểu, xã Y bán cho một người phụ nữ không quen biết được 200.000đ, còn chiếc điện thoại Hiếu bán cho một cửa hàng sửa chữa điện thoại tại Thôn P, xã Y được 400.000đ. Số tiền này Cơ quan điều tra đã thu giữ khi bắt quả tang Hiếu về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên (BL 216 – 227).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 16/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Định, giá trị tài sản bị trộm cắp 01 con chó là 250.000đ, 01 điện thoại là 1.300.000đ. Tổng giá trị tài sản Hiếu trộm cắp của anh Quang là 1.550.000đ (BL số 261).

Vụ thứ ba: Khoảng 07 giờ ngày 01/11/2022, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Hiếu đi xe mô tô từ Thị trấn Y xuống xã Y, huyện Yên Định với mục đích tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến trang trại bên trái đường giáp bờ sông Mã của anh Võ Văn L, sinh năm 1983, ở thôn T 2, xã Y, huyện Yên Định quan sát thấy cửa cổng trang trại không khóa nên Hiếu đột nhập vào chuồng chăn nuôi trộm cắp được một 01 máy xay cỏ bằng sắt, có khối lượng khoảng 40kg, 04 chân hàn bằng thép V5, phía trên hàn 01 lồng hình tròn bằng sắt tấm có đường kính khoảng 70 – 80cm, đầu lồng có 01 máng để cho cỏ vào, mặt bên lồng có hàn gắn 01 mô tơ điện, chân của máy xay cao khoảng 40cm, toàn bộ máy được sơn màu xanh. Sau khi trộm cắp được, Hiếu đã mang chiếc máy xay cỏ đến cửa hàng thu mua sắt vụn gần ngã ba xã Yên Bái cũ (nay là xã Y) bán cho một người phụ nữ là chủ cửa hàng thu mua sắt vụn được số tiền 400.000đ sau đó chi tiêu cá nhân hết (Bl 204 – 215).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 08/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Định, giá trị tài sản bị trộm cắp của anh Long là 1.600.000đ (BL 268).

Qúa trình điều tra, Hiếu đã thành khẩn khai nhận về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và hành vi trộm cắp tài sản của mình. Lời khai của Hiếu phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của các bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, hình ảnh camera, kết luận giám định, định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ thu thập khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định Bùi Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là 0,155g, loại heroin để sử dụng; trộm cắp tài sản là 01 chiếc ti vi của gia đình chị Nguyễn Thị G trị giá 4.800.000đ, 01 máy xay cỏ của anh Võ Văn L trị giá 1.600.000đ và 01 chiếc điện thoại Samsung 6S cùng với 01 con chó của anh Trịnh Xuân Q trị giá 1.550.000đ.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 gói giấy màu trắng bên trong có 02 gói giấy có các cục chất bột màu trắng ngà là ma túy, loại heroin có trọng lượng là 0,155g, 02 xi lanh bằng nhựa chưa qua sử dụng, 14 lọ Dimeorol, 01 lọ Novocain 3%, 01 bì xác rắn màu xanh, 01 con dao rựa dài 55,5cm, 01 con dao nhọn dài 28,5cm, 01 chiếc đục bằng kim loại dài 46,5cm, 01 mỏ lét 250x30, 01 cờ lê 17-19, 01 cờ lê 10-12, 01 cờ lê 12, 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Itel, số tiền Việt Nam đồng là 780.000đ, 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, vỏ sơn màu đen, xe không gương, không có biển kiểm soát, số khung RLCUE3720NY114948, số máy E32VE-641160 của Bùi Văn H và 01 ti vi Samsung 50inch.

Các vật chứng trên đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra, gia đình chị Giang yêu cầu Hiếu phải bồi thường số tiền là 4.800.000đ, anh Long yêu cầu bồi thường số tiền 1.600.000đ và anh Quang yêu cầu bồi thường số tiền 1.550.000đ. Hiếu chưa bồi thường được cho bị hại.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSYĐ ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố Bùi Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 và tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Bùi Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Khoản 1 Điều 173, Điểm g, h Khoản 1 Điều 52, Điểm s, r Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 15 tháng đến 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội. Tổng hợp với hình phạt 37 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2022/HS-ST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 15/11/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, Điểm a, b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định, 02 xi lanh bằng nhựa chưa qua sử dụng, 14 lọ Dimeorol, 01 lọ Novocain 3%, 01 bì xác rắn màu xanh, 01 con dao rựa dài 55,5cm, 01 con dao nhọn dài 28,5cm, 01 chiếc đục bằng kim loại dài 46,5cm, 01 mỏ lét 250x30, 01 cờ lê 17-19, 01 cờ lê 10-12, 01 cờ lê 12 và 01 ti vi Samsung 50inch.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 180.000đ, 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Itel và 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, vỏ sơn màu đen, xe không gương, không có biển kiểm soát của Bùi Văn H.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Bùi Văn H phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Văn H số tiền là 4.800.000đ; anh Võ Văn L số tiền là 1.600.000đ và anh Trịnh Xuân Q số tiền là 950.000đ.

Anh Trịnh Xuân Q được nhận số tiền 600.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự

Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận: Bị cáo Bùi Văn H thống nhất với quan điểm luận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Bùi Văn H đã hoàn toàn thừa nhận: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/11/2022, tại thôn Thạc Qủa, xã Y, huyện Yên Định, công an huyện Yên Định bắt quả tang Bùi Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,155g ma túy, loại heroin, với mục đích để sử dụng. Qúa trình điều tra còn chứng minh được, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 01/11/2022, Bùi Văn H đã có hành vi trộm cắp 01 máy xay cỏ của anh Võ Văn L, ở thôn T 2, xã Y, huyện Yên Định trị giá là 1.600.000đ; ngày 04/11/2022, Hiếu trộm cắp 01 ti vi Samsung 50inch của gia đình chị Nguyễn Thị G, ở tổ dân phố Q, Thị trấn Y, huyện Yên Định trị giá 4.800.000đ và ngày 15/11/2022, Hiếu trộm cắp 01 con chó (loại chó cỏ) cùng với 01 điện thoại di động Iphone 6S của anh Trịnh Xuân Q, ở thôn L, xã Y, huyện Yên Định trị giá 1.550.000đ. Tổng giá trị tài sản Hiếu trộm cắp là 7.950.000đ.

Lời khai nhận của bị cáo Bùi Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép 0,155 g ma túy, loại heroin với mục đích để sử dụng và hành vi trộm cắp tài sản của Bùi Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 và tội “Trộm cắp tài sản” Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo theo tội danh trên, đề nghị HĐXX áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Đây là vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy có tính chất nghiêm trọng và vụ án trộm cắp tài sản có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bản thân bị cáo biết tác hại của ma túy, việc sử dụng ma túy gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì coi thường pháp luật, ăn chơi, cần tiền tiêu sài cá nhân mua ma túy sử dụng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần thiết phải lên mức án nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm”. Và trong vụ án này, bị cáo 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đối với lần trộm cắp tài sản ngày 04/11/2022 giá trị tài sản trên 2.000.000đ; đối với lần trộm cắp tài sản ngày 01/11/2022 và ngày 15/11/2022 giá trị tài sản đều dưới 2.000.000đ nhưng trước đó bị cáo bị kết án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nên cả ba lần thực hiện hành vi trộm cắp đều đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Do đó, bị cáo còn phải thêm chịu tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên”.

Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính và xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy. Nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện sửa chữa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản, mua ma túy với mục đích để sử dụng nhưng chưa sử dụng thì bị Công an bắt quả tang. Do vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; khi bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đã tự khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s, r Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 75/2022/HS-ST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt bị cáo Bùi Văn H 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 17 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội là 37 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Bị cáo chưa chấp hành bản án nên cần tổng với hình phạt của bản án này và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với khối lượng ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 sim điện thoại số 0937 327 442, 02 xi lanh bằng nhựa chưa qua sử dụng, 14 lọ Dimeorol, 01 lọ Novocain 3%, 01 bì xác rắn màu xanh, 01 con dao rựa dài 55,5cm, 01 con dao nhọn dài 28,5cm, 01 chiếc đục bằng kim loại dài 46,5cm, 01 mỏ lét 250x30, 01 cờ lê 17-19, 01 cờ lê 10-12, 01 cờ lê 12 và 01 ti vi Samsung 50inch là những công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, chiếc ti vi trong quá trình bị cáo vận chuyển đi tiêu thụ đã bị vỡ màn hình không còn sử dụng được, bị hại không có yêu cầu nhận lại, bị cáo đề nghị tịch thu tiêu hủy nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Itel và 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, vỏ sơn màu đen, xe không gương chiếu hậu, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng, số khung LRCUE3720NY114948, số máy E32VE641160 của Bùi Văn H là công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền Việt Nam đồng 780.000đ thu giữ của bị cáo Hiếu khi bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hiếu khai đây là tiền có được sau khi bán tài sản trộm cắp của anh Quang là 600.000đ, số tiền còn lại 180.000đ là tiền có được của lần trộm cắp trước đó nhưng bị cáo không nhớ là bán tài sản trộm cắp của ai, bị cáo đề nghị sung quỹ Nhà nước số tiền này. Do vậy, cần trả số tiền 600.000đ cho anh Quang. Số tiền còn lại 180.000đ tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra, bị hại yêu cầu bị cáo Bùi Văn H phải bồi thường thiệt hại giá trị của các tài sản bị trộm cắp theo giá trị của Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Định đã định giá, cụ thể: Chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Văn H yêu cầu bị cáo Hiếu phải bồi thường là 4.800.000đ, anh Võ Văn L yêu cầu bồi thường là 1.600.000đ và anh Trịnh Xuân Q yêu cầu bồi thường là 1.550.000đ. Bị cáo Hiếu chưa bồi thường cho bị hại. Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của các bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Bị cáo Hiếu đồng ý bồi thường cho bị hại nên buộc bị cáo Hiếu phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho chị Giang, anh Hưng số tiền là 4.800.000đ; anh Long số tiền là 1.600.000đ; anh Quang số tiền là 1.550.000đ nhưng được trừ số tiền 600.000đ đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án, số tiền còn lại 950.000đ buộc bị cáo Hiếu tiếp tục bồi thường cho anh Quang.

Đối với anh Đỗ Hữu G1 là người mua chiếc ti vi do Hiếu trộm cắp mà có với giá 150.000đ. Anh Giang không biết đây là tài sản do Hiếu trộm cắp mà có và Hiếu cũng không nói cho anh Giang biết nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Giang. Qúa trình chuẩn bị xét xử, anh Giang không yêu cầu bị cáo Hiếu phải trả lại số tiền 150.000đ anh Giang đã bỏ ra mua chiếc tivi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với việc ông Trần Văn N trong quá trình điều tra có đề nghị bị cáo Hiếu phải trả số tiền 7.000.000đ do bị cáo còn nợ khi mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, vỏ sơn màu đen, xe không gương, không có biển kiểm soát. Xét thấy, việc bị cáo Hiếu nợ tiền mua xe của ông Ngà là quan hệ dân sự, không được xem xét giải quyết trong vụ án này nên giành quyền cho ông Ngà khởi kiện bị cáo Hiếu bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

Đối với người bán ma túy cho Hiếu và những người mua tài sản do Hiếu trộm cắp mà có, quá trình điều tra Hiếu khai không biết tên, địa chỉ cụ thể của những người này. Do đó, không có cơ sở để xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và ánh phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Khoản 1 Điều 173, Điểm g, h Khoản 1 Điều 52, Điểm s, r Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 56, Khoản 1, Khoản 2 Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự; Khoản 2, Khoản 3 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, c Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn H 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 30 (ba mươi) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 37 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2022/HS-ST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 67 (sáu mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 15/11/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Bùi Văn H phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại, cụ thể:

Bồi thường cho chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Văn H số tiền là 4.800.000đ (Bốn triệu, tám trăm nghìn đồng);

Bồi thường cho anh Võ Văn L số tiền 1.600.000đ (Một triệu, sáu trăm nghìn đồng);

Tiếp tục bồi thường cho anh Trịnh Xuân Q số tiền là 950.000đ (Chín trăm năm mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền bị cáo Hiếu phải bồi thường là 7.350.000đ (Bảy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo không trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án tại thời điểm thi hành án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật hình sự.

Anh Trịnh Xuân Q được nhận số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 05/05/2023 của công an huyện Yên Định đến tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định.

Giành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác cho ông Trần Văn N đối với việc yêu cầu bị cáo Hiếu trả số tiền 7.000.000đ khi có yêu cầu.

4. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín niêm phong, mặt trước phong bì ghi vụ Bùi Văn H CA Yên Định TC 345 (16/11/22), mặt sau có chữ ký giáp lai của Lê Minh Tiến, Trần Thị Thúy Hằng, Nguyễn Công Linh và 07 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa; 02 xi lanh bằng nhựa chưa qua sử dụng; 14 lọ Dimeorol; 01 lọ Novocain 3%; 01 bì xác rắn màu xanh; 01 con dao rựa dài 55,5cm; 01 con dao nhọn dài 28,5cm; 01 chiếc đục bằng kim loại dài 46,5cm; 01 mỏ lét 250x30; 01 cờ lê 17-19; 01 cờ lê 10-12; 01 cờ lê 12 và 01 ti vi Samsung 50inch.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Itel và 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, vỏ sơn màu đen, xe không gương chiếu hậu, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng, số khung LRCUE3720NY114948, số máy E32VE641160 của Bùi Văn H.

Các vật chứng trên được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định theo phiếu nhập kho số NK32 ngày 25/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng) theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 05/05/2023 của công an huyện Yên Định đến tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 367.500đ (Ba trăm sáu mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hiếu được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ