vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Tuyên án 21/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Về vật chứng: Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VsMART PQ6001, màu xanh đen, IMEI1: 352859100274326, IMEI2: 35289100274334 của Lý Láo L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Láo Lở - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ S
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46 /2023/HS-ST
Ngày 21/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Cở

Ông Vũ Minh Huấn

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hà – Thư ký Toà án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Tráng A Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Lý Láo L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 07/8/1996 tại thị xã S, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn Bản Kim, xã Thanh Bình, thị xã S, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lý Phử Quyện và bà Phàn Cở Mẩy ( đã chết); Vợ là Lý Mùi Pham; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Lý Láo L bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/6/2023 hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S. Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Thúy Hằng. Địa chỉ: Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Lào Cai Chi nhánh Sa Pa. Có mặt.

Người bị hại:

- Chị Trần Thị Tám. Địa chỉ: Tổ 05, phường Sa Pa, thị xã S, tỉnh Lào Cai.Vắng mặt.

- Chị Lự Thị Nhung. Địa chỉ: Thôn Bảo Nhai, xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

- Anh Sùng A Chư. Địa chỉ: Thôn Ý Linh Hồ 1, xã Hoàng Liên, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Chị Lục Thanh Tuyền. Địa chỉ: Thôn Bảo Nhai, xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 25/4/2023 đến ngày 05/6/2023, Lý Láo L đã thực hiện 01 (một) vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 02 (hai) vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã S, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra ngày 25/4/2023 tại tổ 5, phường Sa Pa, thị xã S, tỉnh Lào Cai:

Trong quá trình làm nhân viên lái xe cho hãng xe điện Tây Bắc tại thị xã S, tỉnh Lào Cai, khi chở khách Lý Láo L thường xuyên giới thiệu với khách du lịch đến thuê xe mô tô tại các cửa hàng cho thuê xe mô tô của chị Trần Thị Tám có địa chỉ tại Tổ 5, phường Sa Pa, thị xã S để được trích phần trăm hoa hồng. Ngày 25/4/2023, do hết tiền tiêu xài cá nhân, Lý Láo L nảy sinh ý định đến cửa hàng cho thuê xe mô tô của chị Tám, lừa thuê xe mô tô của chị Tám cho khách du lịch, sau đó mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Lý Láo L đến cửa hàng gặp chị Tám. Tại đây Lở hỏi và đặt vấn đề thuê 01 (một) chiếc xe mô tô cho khách du lịch. Vì biết Lở là lái xe điện hay giới thiệu khách đến thuê xe của mình, nên chị Tám đồng ý và đưa cho Lở 02 chiếc mũ bảo hiểm và chìa khoá của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave ANP, màu xanh, đen bạc BKS 24B2-870.10 và không làm giấy tờ. Sau khi nhận xe, Lý Láo L sử dụng điện thoại Vsmart PQ6001, màu xanh đen của mình gọi cho Lê Văn Quyền (Sinh năm 1995, trú tại: thôn Làng Chung, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai) là người quen của Lở, với mục đích cầm cố chiếc xe vừa thuê được của chị Tám cho Quyền để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lê Văn Quyền hẹn Lý Láo L đến phòng trọ của mình tại ngõ Hùng Hồ, thuộc Tổ 4, phường Sa Pa, thị xã S. Quá trình gặp và trao đổi, Lở nói đang có việc cần tiền gấp nên nhờ Quyền cầm cố giúp chiếc xe BKS 24B2-870.10 Lở vừa chiếm đoạt trước đó của chị Tám cho Quyền. Quyền hỏi giấy tờ xe nhưng Lở nói không có. Do quen biết nhau từ trước, nên Quyền đã đồng ý nhận cầm cố chiếc xe mô tô trên cho Lở với số tiền là 7.000.000 đ (bảy triệu đồng). Sau khi nhận tiền, Lở đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.

Ngày 26/4/2023, chị Trần Thị Tám gọi điện yêu cầu Lý Láo L mang xe về trả nhưng Lở nói với chị Tám về việc bản thân đã cầm cố chiếc xe trên và đã tiêu xài hết số tiền cầm cố chiếc xe, đến nay không có khả năng trả lại. Chị Trần Thị Tám đã có đơn trình báo đến Công an phường Sa Pa, thị xã S đề nghị xử lý Lý Láo L theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/5/2023, Cơ quan điều tra ra yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave ANP, màu xanh, đen bạc biển kiểm soát 24B2-870.10. Tại bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐG ngày 10/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: Tổng giá trị còn lại của tài sản được trưng cầu định giá là 14.092.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Lý Láo L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, động cơ, mục đích khi thực hiện tội phạm

Vụ thứ hai: Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 30/5/2023 tại tổ 1, phường Hàm Rồng, thị xã S, tỉnh Lào Cai:

Trưa ngày 30/5/2023, Lý Láo L đi bộ một mình từ khu vực cổng chào thị xã S xuống khu vực phường Hàm Rồng, thị xã S, mục đích tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến khu vực trạm y tế phường Hàm Rồng, thị xã S, Lở phát hiện 01 xe mô tô BKS 24B2-060.24 của chị Lự Thị Nhung (sinh năm 1987, nơi thường trú thôn Bảo Nhai, xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai) tạm trú tại Tổ 1, phường Hàm Rồng, thị xã S, trước đó cho Tẩn Ồng Sú (sinh năm 1993, HKTT thôn Nậm Trà, xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai), hiện trú tại Tổ 1, phường Hàm Rồng, thị xã S mượn để đi đến khu vực Trạm y tế phường Hàm Rồng để làm vườn. Khi đến nơi, Sú dựng xe ở khu vực gần trạm y tế phường Hàm Rồng, sau đó đi xuống vườn để làm việc, xe vẫn còn cắm chìa khóa. Quan sát không có người trông coi, Lý Láo L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này để cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lở tiến đến bật chìa khóa điện khởi động xe, rồi điều khiển đi đến đường Lê Văn Tám (phía sau khách sạn Sao Phương Bắc, thuộc khu vực Tổ 2, phường Sa Pa, thị xã S rồi để xe tại vỉa hè đường. Đến khoảng 22 giờ, ngày 31/5/2023, Lở liên lạc và hẹn gặp Lê Văn Quyền (sinh năm 1995, trú tại xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh lào Cai), hiện tạm trú tại Tổ 4, phường Phan Si Păng, thị xã S để cầm cố chiếc xe này lấy tiền tiêu xài cá nhân. Quyền đồng ý và hẹn gặp Lở tại khu vực chợ Sa Pa. Khoảng 01 giờ, ngày 01/6/2023, Lở gặp Quyền. Tại đây Lở nói “Cắm cho em con xe”, Quyền đáp “xe của ai”, Lở nói “Xe của dì em, cắm năm triệu”. Sau khi kiểm tra xe, Quyền nhận cầm cố xe của Lở với số tiền 3.000.000 đ. Lở đồng ý và nhận số tiền trên và đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi biết tin Lở bị bắt về tội trộm cắp tài sản, ngày 11/6/2023 Quyền đã đem chiếc xe trên đến nhà bố đẻ của Lở tại xã Thanh Bình, thị xã S để trả lại cho Lở, thì bị Công an xã Thanh Bình phát hiện, thu giữ chiếc xe trên.

Ngày 22/6/2023, Cơ quan điều tra ra yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX mang biển kiểm soát 24B2-060.24. Tại bản kết luận định giá tài sản số 26 ngày 26/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: Tổng giá trị còn lại của tài sản được trưng cầu định giá là 8.370.834 đồng.

Vụ thứ ba: Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 05/6/2023 tại tổ 3, phường Phan Si Păng, thị xã S, tỉnh Lào Cai:

Khoảng 16 giờ ngày 05/6/2023, anh Sùng A Chư (Sinh năm 1990, trú tại: Thôn Ý Lình Hồ 1, xã Hoàng Liên, thị xã S, tỉnh Lào Cai) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen-xám BKS 24B2 - 341.82 đi từ nhà đến Trường THPT số 1 Sa Pa thuộc Tổ 3, phường Phan Si Păng, thị xã S để thăm con. Đến nơi, Sùng A Chư để xe mô tô tại vị trí mép đường bên phải đường quốc lộ 4D (hướng đi trung tâm thị xã S), cách cổng trường khoảng 50 mét, chìa khóa xe mô tô vẫn cắm tại ổ khoá, sau đó đi lên trường thăm con. Cùng lúc này, Lý Láo L đi bộ một mình từ trung tâm thị xã S lên khu vực ga đi cáp treo Fansipan, mục đích tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến khu vực cổng trường THPT thị xã số 1 Sa Pa, Lở quan sát thấy chiếc xe mô tô của anh Sùng A Chư dựng ở lề đường đang cắm chìa khóa ở ổ khóa xe, không có người trông coi, quản lý nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe để làm phương tiện đi lại, Lở tiến lại vị trí chiếc xe mô tô, khởi động xe rồi điều khiển xe đi về lán của gia đình tại thôn Bản Kim, xã Thanh Bình, thị xã S rồi cất giấu ở đó.

Sau khi phát hiện tài sản bị trộm cắp, Sùng A Chư đã đến Công an phường Phan Si Păng trình báo. Khoảng 09 giờ ngày 07/6/2023, Công an xã Thanh Bình, thị xã S phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen xám BKS: 24B2-341.82 đang để tại lán của gia đình Lý Láo L thuộc thôn Bản Kim, xã Thanh Bình, thị xã S nên tiến hành kiểm tra. Lý Láo L đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bản thân vào ngày 05/06/2023 tại tổ 3, phường Phan Si Păng, thị xã S. Công an xã Thanh Bình, thị xã S đã bàn giao Lý Láo L và vật chứng là chiếc xe mô tô BKS 24B2 - 341.82 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 08/6/2023, Cơ quan điều tra ra yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát: 24B2-341.82. Tại bản kết luận định giá tài sản số 24 ngày 09/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: Tổng giá trị còn lại của tài sản được trưng cầu định giá là 11.637.500 đồng

Cáo trạng số 44/CT-VKSSP ngày 31/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S đã truy tố bị cáo Lý Láo L phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lý Láo L và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Đề nghị Hội đồng căn cứ vào khoản 1 Điều 174; Điều 38; Điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng và Tuyên bố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm h, s Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng. Áp dụng điểm a, khoản 1 điều 55 tổng hợp hình cho 02 tội.

Về vật chứng: Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VsMART PQ6001, màu xanh đen, IMEI1: 352859100274326, IMEI2: 35289100274334 thu giữ của bị cáo Lý Láo L dùng.

Tuyên án phí, quyền kháng cáo cho bị cáo, người bị hại

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã S đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo. Bị cáo là người Dân tộc thiểu số vì vậy hạn chế về nhận thức pháp luật, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, Tình tiết giảm nhẹ: Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lý Láo L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bản thân bị can đã thu hồi lại chiếc xe, trao trả cho bị hại và bồi thường một phần hậu quả mình đã gây ra cho bị hại; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử 12 tháng. Đối với tội “Trộm cắp tài sản” quá trình điều tra bị cáo Lý Láo L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử 07 tháng tù. Bị cáo là người không có tài sản riêng đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại, người liên quan: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại, người liên quan, không có đề nghị gì. Tại phiên Tòa vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử. Vì vậy Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về nội dung:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Lý Láo L khai trong khoảng thời gian từ ngày 25/4/2023 đến ngày 05/6/2023, Lý Láo L đã thực hiện 01 (một) vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 02 vụ trộm cắp tài sản: Lợi dụng lòng tin của chị Trần Thị Tám có địa chỉ tại Tổ 5, phường Sa Pa, thị xã S vì Lở thường xuyên giới thiệu thuê xe và được chị Tám trích phần trăm hoa hồng nên ngày 25/4/2023 Lở có nói chị Tám thuê 01 (một) chiếc xe mô tô cho khách du lịch nên chị Tám đồng ý và đưa cho Lở 02 chiếc mũ bảo hiểm và chìa khoá của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave ANP, màu xanh, đen bạc BKS 24B2-870.10 và không làm giấy tờ. Sau khi nhận xe, Lý Láo L đã gọi cho Lê Văn Quyền (Sinh năm 1995, trú tại: thôn Làng Chung, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai) là người quen của Lở, với mục đích cầm cố chiếc xe vừa thuê được của chị Tám cho Quyền để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do quen biết nhau từ trước, nên Quyền đã đồng ý nhận cầm cố chiếc xe mô tô trên cho Lở với số tiền là 7.000.000 đ (bảy triệu đồng). Đến ngày 30/5/2023 lợi dụng sơ hở của Tẩn Ông Sú bị cáo đã có hành vi lấy trộm chiếc xe mô tô BKS 24B2-060.24 của chị Lự Thị Nhung do Sú Mượn dựng xe ở khu vực gần trạm y tế phường Hàm Rồng. Sau đó bị cáo cầm cố xe cho Quyền với số tiền 3.000.000 đồng. Vào khoảng 16 giờ ngày 05/6/2023 lợi dụng sơ hở của anh Sùng A Chư dựng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen-xám BKS 24B2 - 341.82 ở lề đường đang cắm chìa khóa ở ổ khóa xe, không có người trông coi, quản lý, Lý Láo L lấy trộm cắp chiếc xe để làm phương tiện đi lại rồi điều khiển xe đi về lán của gia đình tại thôn Bản Kim, xã Thanh Bình, thị xã S rồi cất giấu ở đó.

Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định Hành vi trộm cắp tài sản là 02 (hai) xe mô tô của chị Lự Thị Nhung và anh Sùng A Chư có tổng giá trị là 20.008.334 (hai mươi triệu không trăm linh tám nghìn ba trăm ba mươi tư đồng) cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. đồng thời thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với 01 (một) xe mô tô của chị Trần Thị Tám có giá trị 14.092.000 đ (mười bốn triệu không trăm chín mươi hai nghìn đồng) của bị cáo đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, hiểu biết pháp luật. Mặc dù biết rõ việc trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do lười lao động, muốn có tiền để tiêu sài cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trộm cắp tài sản là 02 (hai) xe mô tô của chị Lự Thị Nhung và anh Sùng A Chư có tổng giá trị là 20.008.334 (hai mươi triệu không trăm linh tám nghìn ba trăm ba mươi tư đồng), đồng thời bị cáo dùng thủ đoạn gian dối lấy lòng tin của bị hai thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với 01 (một) xe mô tô của chị Trần Thị Tám có giá trị 14.092.000 đồng (mười bốn triệu không trăm chín mươi hai nghìn đồng). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Đối với hành vi trộm cắp sản là 02 (hai) xe mô tô của chị Lự Thị Nhung và anh Sùng A Chư bị cáo chịu tình tiết phạm tội nhiều lần quy định điểm g khoản 2 Điều 52.

Tình tiết giảm nhẹ: Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lý Láo L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bản thân bị cáo đã thu hồi lại chiếc xe, trao trả cho bị hại và bồi thường một phần hậu quả mình đã gây ra cho bị hại; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với tội “Trộm cắp tài sản” quá trình điều tra bị cáo Lý Láo L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Đây là các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, căn cứ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.

Về vấn đề khác: Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo 07 tháng tù về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”là không phù hợp. Vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận đối với đề nghị của người bào chữa.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VsMART PQ6001, màu xanh đen, IMEI1: 352859100274326, IMEI2: 35289100274334 thu giữ của bị cáo Lý Láo L dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản và được bị cáo Lý Láo L bồi thường số tiền 500.000 đồng tiền bị thiệt hại trong những ngày không có xe thuê chị Trần Thị Tám không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự, nên không đề cập giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật.

Anh Lục Thanh Tuyền là người đại diện của bị hại Lự Thị Nhung, anh Sùng A Chư không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về trách nhiệm dân sự, nên không đề cập giải quyết là phù hợp với quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; Điều 38; Điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Lý Láo L 01 năm tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm h, s điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lý Láo L 01 năm 03 tháng tù.

Căn cứ điểm a khoản 1 điều 55 của Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt cho cả 2 tội là 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính bắt tạm giam 07/6/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VsMART PQ6001, màu xanh đen, IMEI1: 352859100274326, IMEI2: 35289100274334 của Lý Láo L.

(Vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 9 năm 2023)

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lý Láo L phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ