- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lan Anh Tuấn Anh"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Doãn Thị Lan A được ly hôn với anh Vũ Tuấn A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2023/HNGĐ-ST Ngày 14-6-2023 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Đức Vịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quyết
Bà Nguyễn Thị Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Kiểm sát viên.
Ngày 14-6-2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2023/TLST-HNGĐ ngày 14-02-2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04-5-2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 39/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26-5-2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Doãn Thị Lan A; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn CPh, xã VQ, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Khu dân cư BM, thị trấn VB, huyện VB, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
- Bị đơn: Anh Vũ Tuấn A; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn CPh, xã VQ, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Khu dân cư BM, thị trấn VB, huyện VB, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 01-02-2023, bản tự khai và tại phiên hòa giải, nguyên đơn là chị Doãn Thị Lan A trình bày:
Chị và anh Vũ Tuấn A kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VQ, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 09-9-2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc được thời gia đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung trong tình cảm, tâm sinh lý nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không tôn trọng nhau. Mặc dù đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau, cắt đứt mọi quan hệ nghĩa vụ vợ chồng. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Tuấn A.
Về con chung: Chị và anh Tuấn A có 02 con chung là Vũ Phương L, sinh ngày 19-4-2014 và Vũ Tuấn M, sinh ngày 14-3-2016. Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phương L còn giao cháu Tuấn M cho anh Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự thoả thuận với anh Tuấn A, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Vũ Tuấn A vắng mặt toàn bộ quá trình tố tụng tại Toà án nhưng tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 13-4-2023, anh Tuấn A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận về thời gian, điều kiện kết hôn như nội dung chị Lan A trình bày là đúng. Quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Tuy nhiên, anh không đồng ý ly hôn vì con còn nhỏ và anh vẫn còn tình cảm với chị Lan A.
Về con chung: Anh và chị Lan A có 02 con chung là Vũ Phương L, sinh ngày 19-4-2014 và Vũ Tuấn M, sinh ngày 14-3-2016. Trường hợp vợ chồng ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tuấn M còn giao cháu Phương L cho chị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh, chị xin tự thoả thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xác định quan hệ tranh chấp về Ly hôn, tranh chấp nuôi con là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, về thẩm quyền đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chấp hành không đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các điều 81; 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho chị Doãn Thị Lan A được ly hôn với anh Vũ Tuấn A; về con chung: Giao con chung là Vũ Phương L, sinh ngày 19-4-2014 cho chị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Vũ Tuấn M, sinh ngày 14-3-2016 cho anh Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết. Về án phí: Chị Lan A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Chị Doãn Thị Lan A có đơn xin ly hôn với anh Vũ Tuấn A có nơi cư trú tại huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo; Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chấp hành không đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Doãn Thị Lan A và anh Vũ Tuấn A kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VQ, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 09-9-2011. Như vậy, hôn nhân này là hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị Lan A và anh Tuấn A đều xác nhận vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống, không hợp nhau về tính cách, tâm sinh lý nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, không tôn trọng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lan A xin ly hôn nhưng anh Tuấn A không đồng ý. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh Tuấn A không lên Toà án để giải quyết, tại hai phiên Toà anh Tuấn A đều vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, từ đó xác định được mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lan A và anh Tuấn A đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Doãn Thị Lan A xin ly hôn với anh Vũ Tuấn A.
Về con chung: Chị Lan A và anh Tuấn A đều xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Vũ Phương L, sinh ngày 19-4-2014 và Vũ Tuấn M, sinh ngày 14-3-2016. Khi ly hôn, chị Lan A có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Phương L, anh Tuấn A có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Tuấn M. Xét thấy, cháu Phương L đã trên 7 tuổi có nguyện vọng được ở với chị Lan A, cháu Tuấn M có nguyện vọng được ở với anh Tuấn A, chị Lan A và anh Tuấn A đề có việc làm và có thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung tốt. Do đó, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung Vũ Phương L cho chị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, giao con chung Vũ Tuấn M cho anh Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, do chị Lan A và anh Tuấn A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lan A và anh Tuấn A không yêu cầu nên không xét giải quyết.
Về án phí: Chị Lan A phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các điều 81; 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Doãn Thị Lan A được ly hôn với anh Vũ Tuấn A.
2. Về con chung: Giao con chung Vũ Phương L, sinh ngày 19-4-2014 cho chị Lan A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao con chung Vũ Tuấn M, sinh ngày 14-3-2016 cho anh Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, hai bên tự thoả thuận, không xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Lan A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Lan A đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0002457 ngày 13-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Chị Lan A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Lan A và anh Tuấn A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Vĩnh Bảo; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Bảo; - UBND xã VQ, huyện VB; - Đương sự; - Lưu: Hành chính tư pháp, hồ sơ việc dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Vịnh |