vanban.org

Bản án 46/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Văn Đ được ly hôn với chị Đặng Thị Ng.

2/ Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 03 con chung Hoàng Hải Y, sinh ngày 23/01/2007, Hoàng Hải A, sinh ngày 21/3/2012 và Hoàng Hải V, sinh ngày 13/11/2018. Anh Hoàng Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi 03 con chung cùng chị Ng là 3.000.000đồng (Ba triệu đồng)/01 t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Văn Đ xin ly hôn chị Đặng Thị Ng"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Văn Đ được ly hôn với chị Đặng Thị Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
Tỉnh Thái Bình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 30/6/2023
V/v: “ Tranh chấp hôn nhân và
gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Linh

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Thái Học.

2. Bà Trần Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải tham gia phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 77/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/4/2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXX- ST ngày 06/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21/6/2023 giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn Th, xã L, huyện H, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Chị Đặng Thị Ng, sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình.

(Anh Đ có mặt; chị Ng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Hoàng Văn Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ và chị Ng kết hôn với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 03/11/2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh Đ chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống. Từ cuối năm 2019 cho đến nay, anh Đ và chị Ng sống ly thân. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh Đ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải giải quyết cho anh Đ được ly hôn với chị Ng.

Về con chung: Anh Đ và chị Ng có 03 con chung là Hoàng Hải Y, sinh ngày 23/01/2007, Hoàng Hải A, sinh ngày 21/3/2012 và Hoàng Hải V, sinh ngày 13/11/2018. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay thì cả 03 con chung sống cùng chị Ng. Sau khi ly hôn anh Đ đồng ý để 03 con chung cho chị Ng nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi 03 con chung cùng chị Ng là 3.000.000đồng/01 tháng.

Về tài sản chung, công nợ: Anh Đ và chị Ng không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/5/2023, Bị đơn là chị Đặng Thị Ng trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ng và anh Đ tự nguyện tìm hiểu, kết hôn năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Đ có quan hệ với người phụ nữ khác và từ năm 2019 cho đến nay chị Ng và anh Đ sống ly thân. Nay anh Đ có đơn xin ly hôn chị Ng, quan điểm của chị Ng đồng ý ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị Ng và anh Đ có 03 con chung là Hoàng Hải Y, sinh ngày 23/01/2007, Hoàng Hải A, sinh ngày 21/3/2012 và Hoàng Hải V, sinh ngày 13/11/2018. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay thì cả 03 con chung sống cùng chị Ng. Sau khi ly hôn, chị Ng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định đây là trách nhiệm của anh Đ với các con.

Về tài sản chung, công nợ: Chị Ng không yêu cầu gì.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ, đúng thời hạn cho các đương sự. Đối với nguyên đơn chấp hành chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và không tham gia phiên tòa.

- Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho anh Hoàng Văn Đ được ly hôn chị Đặng Thị Ng; Về con chung: Giao 03 con chung Hoàng Hải Y, sinh ngày 23/01/2007, Hoàng Hải A, sinh ngày 21/3/2012 và Hoàng Hải V, sinh ngày 13/11/2018 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Ng là 3.000.000đồng/01 tháng cho cả ba con; Về tài chung: Không giải quyết. Về án phí: Anh Hoàng Văn Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn là chị Đặng Thị Ng có hộ khẩu thường trú tại xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa anh Hoàng Văn Đ và chị Đặng Thị Ng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn Đ và chị Đặng Thị Ng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 03/11/2005. Tại thời điểm kết hôn, anh Đ và chị Ng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Đó là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh Đ và chị Ng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với chị Ng vì tình cảm vợ chồng không còn. Bị đơn là chị Ng tuy không đến Tòa án làm việc và không tham gia phiên tòa nhưng quá trình Tòa án lấy lời khai của chị Ng, quan điểm của chị Ng cũng đồng ý ly hôn với anh Đ. Mặt khác, từ tháng 6 năm 2019 cho đến nay anh Đ và chị Ng sống ly thân, quan hệ vợ chồng không còn tồn tại trên thực tế. Như vậy, hôn nhân của anh Đ và chị Ng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Đ, giải quyết cho anh Đ được ly hôn với chị Ng là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Anh Đ và chị Ng có 03 con chung là Hoàng Hải Y, sinh ngày 23/01/2007, Hoàng Hải A, sinh ngày 21/3/2012 và Hoàng Hải V, sinh ngày 13/11/2018. Sau khi ly hôn anh Đ đồng ý để 03 con chung cho chị Ng nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi 03 con chung cùng chị Ng là 3.000.000đồng/01 tháng. Chị Ng có nguyện vọng xin nuôi ba con chung và yêu cầu anh Đ phải có trách nhiệm với các con. Xét thấy, từ khi anh Đ và chị Ng không chung sống cùng nhau cho đến nay, cả ba con chung của anh Đ và chị Ng đều sống cùng chị Ng. Cháu Hải Yến và cháu Hải Anh trên 07 tuổi và có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Vì vậy, để tạo điều kiện cho việc sinh hoạt và học tập ổn định cũng như sự phát triển của con chung của anh Đ và chị Ng. Hội đồng xét xử giao 03 con chung của anh Đ và chị Ng là Hoàng Hải Y, Hoàng Hải A và Hoàng Hải V cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đ phải cấp dưỡng nuôi 03 con chung cùng chị Ng là 3.000.000đồng (Ba triệu đồng)/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7/2023 cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

. Về tài sản chung: Không giải quyết.

. Về án phí: Anh Hoàng Văn Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm sơ thẩm và án phí nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5, điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Văn Đ được ly hôn với chị Đặng Thị Ng.

2/ Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 03 con chung Hoàng Hải Y, sinh ngày 23/01/2007, Hoàng Hải A, sinh ngày 21/3/2012 và Hoàng Hải V, sinh ngày 13/11/2018. Anh Hoàng Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi 03 con chung cùng chị Ng là 3.000.000đồng (Ba triệu đồng)/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7/2023 cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

Anh Hoàng Văn Đ có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung và được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

3/ Về tài sản chung: Không giải quyết.

4/ Về án phí: Anh Hoàng Văn Đ phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh Đ đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0002352 ngày 11/4/2023. Anh Đ còn phải nộp tiếp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).

5/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/6/2023).

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ