vanban.org

Bản án 46/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị H là vợ chồng.

Về con chung: Cả 02 con chung tên Nguyễn Thị H1, sinh ngày 03/02/1990 và Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 09/09/1993. Cả 02 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu. Về quan hệ tài sản chung và nợ: Không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hiền xin ly hôn anh Kết"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị H là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 46/2023/HNGĐ-ST
Ngày 01-02-2023
V/v tranh chấp hôn nhân gia đình
“Ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sức

2. Ông Võ Văn Tám

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Thy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

Trong ngày 01 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 301/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022, về tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn và nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 giữa:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1967, địa chỉ: tổ 3, ấp Phú Đ, xã PL, huyện Phú Tân, An Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1965, địa chỉ: tổ 3, ấp Phú Đ, xã PL, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

(Ông K, bà H có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ theo đơn khởi kiện, bảng tự khai nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Văn K tự tìm hiểu quen biết nhau được sự đồng ý của cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới cho chúng tôi năm 1989, không có đăng ký K hôn. Sau đám cưới vợ chồng sống hạnh phúc suốt khoảng thời gian dài đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, từ đó không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau, tình cảm vợ chồng không hạnh phúc, ngày càng rạn nứt không thể hàn gắn được, khoảng năm 2012 ông K bỏ đi làm ăn vợ chồng ly thân từ đó, thời gian đầu có liên lạc về thăm vợ con được vài lần, thời gian sau không còn qua lại. Nay mỗi người có cuộc sống riêng nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn K.

+ Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị H1, sinh ngày 03/02/1990 và Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 09/09/1993. Cả 02 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu.

+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ phải thu, phải trả: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn K trình bày: Về thời gian K hôn, quá trình tìm hiểu quen biết nhau và thời gian chung sống với nhau thống nhất như lời bà H trình bày. Tôi và bà H được cha mẹ tổ chức lễ cưới, nhưng không đăng ký K hôn, chung sống đến khoảng năm 2008 thì bắt đầu có những cự cãi nhau trong việc làm ăn, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng dẫn đến ly hôn là vợ chồng không còn phù hợp tính tình, không có điểm chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nhiều lần vợ chồng muốn hoà hợp hàn gắn để lo cho con nhưng không được. Đến năm 2012 tôi lo đi làm ăn, từ đó mỗi người có cuộc sống riêng không qua lại cũng không liên lạc với nhau, nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể hàn gắn, đồng ý ly hôn với bà Lê Thị H.

+ Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị H1, sinh ngày 03/02/1990 và Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 09/09/1993. Cả 02 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu.

+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ phải thu, phải trả: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn K đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã PL, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Nên bà H khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các bên có đơn xin vắng mặt nên căn cứ theo quy định pháp luật, Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị H do tự tìm hiểu được cha mẹ chấp thuận rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, nhưng không đăng ký K hôn là hôn nhân không hợp pháp nên không được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra.

Bà H cho rằng, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, không cùng quan điểm, tình tình không phù hợp nhau, vợ chồng đã nhiều lần muốn hàn gắn nhưng không được nên mâu thuẫn ngày thêm trầm trọng, không thể hòa giải hàn gắn được và giữa hai bên không có biện pháp hàn gắn, cho thấy tình cảm giữa vợ, chồng đã trầm trọng, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn K. Do ông bà không đăng ký K hôn nên không được pháp luật thừa nhận vì hôn nhân của ông, bà là hôn nhân không hợp pháp do vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó để cho ông, bà có cuộc sống riêng, nên HĐXX không công nhận giữa ông, bà là vợ chồng theo quy định tại Điều 89 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

. Về quan hệ con chung: Ông K và bà H thống nhất có 02 con chung tên Nguyễn Thị H1, sinh ngày 03/02/1990 và Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 09/09/1993. Cả 02 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ phải thu: Quá trình làm việc, ông, bà thống nhất không có, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về nợ phải trả: Các đương sự khai không có, vì vậy Hội đồng xét xử ghi nhận, nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí: Bà Lê Thị H là người xin ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 9; Điều 14; Điều 51, 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 238; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ Điều 26; Điều 27; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị H là vợ chồng.

Về con chung: Cả 02 con chung tên Nguyễn Thị H1, sinh ngày 03/02/1990 và Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 09/09/1993. Cả 02 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu.

Về quan hệ tài sản chung và nợ: Không yêu cầu.

Án phí: Bà Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0005565 ngày 05/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Ông Nguyễn Văn K không phải chịu án phí.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao Bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ