vanban.org

Bản án 46/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Q. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Q và anh Danh Chí P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 46/2023/HNGĐ-ST
Ngày 10-4-2023
“V/v Ly hôn giữa chị Q và anh P”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thu Trang và bà Nguyễn Thanh Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 239/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1989

Địa chỉ: Khu phố n, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở hiện nay: Ấp m, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Danh Chí P, sinh năm 1984

Địa chỉ: Khu n, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Nguyễn Thị Q trình bày như sau:

Chị Nguyễn Thị Q (Gọi tắt là Q) và anh Danh Chí P (gọi tắt là P) chung sống với nhau vào năm 2008, hôn nhân tự nguyện được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang vào ngày 19/02/2008.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh P thường xuyên uống rượu về nhà chửi xúc phạm danh dự chị Q, ngoài ra anh P còn tham gia tệ nạn xã hội chơi cờ bạc không lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình và có lần còn hành hung đuổi vợ ra khỏi nhà. Chị Q đã nhiều lần khuyên ngăn chồng nhưng anh P không thay đổi vì vậy vợ chồng đã sống thân với nhau khoảng 02 năm nay mỗi người đều đã tạo cho mình cuộc sống riêng không còn quan tâm tới đời sống của nhau. Chị Q xác định không thể duy trì hôn nhân với anh P được nữa và đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh P.

Về con chung: Chị Q xác định vợ chồng có hai con chung tên Danh Hoàng K, sinh ngày 04/11/2009 và Danh Hoàng T, sinh ngày 05/9/2016. Khi ly hôn chị Q xin được quyền nuôi hai con chung không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Q xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung của vợ chồng: Chị Qxác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Quá trình làm việc tại Tòa án - bị đơn anh Danh Chí P trình bày ý kiến như sau:

Về hôn nhân vợ chồng chung sống với nhau có làm đám cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật như chị Q trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng thường xuyên cự cãi làm cho cuộc sống không còn hạnh phúc, tiền bạc trong gia đình chị Qu tự ý chi xài không thông qua anh P, hiện tại mẹ anh P đã già yếu muốn chị Q về sống chung cùng chăm lo cho mẹ nhưng chị Q không đồng ý. Do mâu thuẫn vợ chồng không thể dung hòa được nên anh Ph và chị Qđã sống ly thân với nhau. Nay chị Quí xin ly hôn thì anh Phụng thống nhất ly hôn.

Về con chung: Anh Phụng xác định có hai người con chung như lời trình bày của chị Q. Đối với cháu Danh Hoàng Th còn nhỏ sống với mẹ từ khi vợ chồng ly thân, còn cháu Danh Hoàng K thì tùy nguyện vọng của con sống với ai người đó nuôi, trường hợp con sống với chị Q thì anh P không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung của vợ chồng: Anh P xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung của vợ chồng: Anh P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Ý kiến trình bày của con chung: Cháu Danh Hoàng K, sinh ngày 04/11/2009 có nguyện vọng được sống với mẹ sau khi mẹ ly hôn.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu (Bản công chứng); giấy khai sinh của các con chung (bản công chứng). Bị đơn không cung cấp chứng cứ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định, bị đơn anh Danh Chí P có đơn xin xét xử vắng mặt tai phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn. Không có kiến nghị về phần tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị Q được ly hôn với anh P; về con chung giao các con chung cho chị Qtiếp tục nuôi dưỡng theo nguyện vọng của con chung, chị Q không có yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét; về tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Tại phiên tòa bị đơn - anh Danh Chí P vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Quan hệ pháp luật: Chị Q yêu cầu ly hôn với anh P và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Chị Q và anh Pchung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Q, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của các đương sự và kết quả xác minh từ chính quyền địa phương có cơ sở xác định đời sống hôn nhân của chị Q và anh P đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên thường xảy ra cự cãi, bất đồng. Ngoài ra anh P còn có hành vi xúc phạm, chửi bới, hành hung vợ sau khi uống rượu và không cùng vợ chăm lo phát triển kinh tế gia đình. Hiện tại vợ chồng đã tự ly thân trong thời gian dài, cả hai vợ chồng đều không có thiện chí hàn gắn hôn nhân. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị Q, cho chị Q được ly hôn với anh P.

Về con chung: Anh chị có hai người con chung, cháu Danh Hoàng K, sinh ngày 04/11/2009 có nguyện vọng được sống với mẹ, còn cháu Danh Hoàng T, sinh ngày 05/9/2016 sống với mẹ từ khi cha mẹ ly thân đến nay. Nhận thấy, sau khi vợ chồng ly thân chị Q có công việc và thu nhập ổn định, tạo dựng cho các con có cuộc sống sinh hoạt và học tập bình thường và con chung có nguyện vọng được sống với mẹ do đó Hội đồng xét xử thống nhất giao các cháu Danh Hoàng K, sinh ngày 04/11/2009 và cháu Danh Hoàng T, sinh ngày 05/9/2016 cho chị Q nuôi dưỡng sau khi chị Q và anh P ly hôn là phù hợp với nguyện vọng của con chung và điều kiện thực tế của vợ chồng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Q không có yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung của vợ chồng: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung của vợ chồng: Các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Q là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia và đình năm 2014;

- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Q.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Q và anh Danh Chí P.

2. Về con chung:

Giao cháu Danh Hoàng K, sinh ngày 04/11/2009 và cháu Danh Hoàng T, sinh ngày 05/9/2016 cho chị Nguyễn Thị Q nuôi dưỡng sau khi chị Nguyễn Thị Q và anh Danh Chí P ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Q không có yêu cầu nên không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003637 ngày 28/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Nguyễn Thị Q đã nộp đủ án phí.

6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự"./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ