- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn anh Cao Anh Q với bị đơn anh Nguyễn Hồng S"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cao Anh Q, buộc anh Nguyễn Hồng S phải trả cho anh Cao Anh Q số tiền 66.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2023/DS-ST Ngày 20-9-2023 “V/v: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Kim Chung
Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Ngọc Khánh, ông Y Dhiễu Hmok.
Thư ký phiên tòa: Ông Y Sơ Mi Niê Kđăm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Toàn – Kiểm sát viên.
Ngày 20-9-2023, tại Phòng xét xử, trụ sở Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2023, Thông báo mở lại phiên tòa số 36/2023/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2023/QĐST-DS ngày 31/8/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Cao Anh Q, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, có mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng S, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường B, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn anh Cao Anh Q trình bày: Vào ngày 23/11/2022 anh Nguyễn Hồng S có vay của anh Cao Anh Q số tiền là 41.000.000 đồng và hẹn ngày 23/12/2022 sẽ thanh toán. Tiếp đó ngày 27/11/2022 anh Nguyễn Hồng S vay thêm của anh Cao Anh Q số tiền là 25.000.000 đồng và hẹn ngày 27/12/2022 sẽ trả, cả hai lần vay các bên có làm giấy tờ vay mượn và không thỏa thuận về lãi suất, các lần vay tiền trên đều có mặt mẹ ruột của anh Nguyễn Hồng S chứng kiến. Tổng số tiền anh S đã vay là 66.000.000 đồng, đã quá hạn theo như theo thỏa thuận nhưng anh Nguyễn Hồng S vẫn không thực hiện việc trả nợ, nên anh Cao Anh Q khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét buộc anh Nguyễn Hồng S phải trả nợ gốc và lãi suất cụ thể như sau:
- Đối với khoản vay ngày 23/11/2022 với số tiền là 41.000.000 đồng: 41.000.000 đồng x 02 tháng 22 ngày = 88 ngày (tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngày 23/12/2022 đến ngày khởi kiện 15/3/2023) x 10%/năm = 988.000 đồng.
- Đối với khoản vay ngày 27/11/2022 với số tiền là 25.000.000 đồng: 25.000.000 đồng x 02 tháng 18 ngày = 78 ngày (tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngày 27/12/2022 đến ngày khởi kiện 15/3/2023) x 10%/năm = 534.000 đồng.
Tổng cộng anh Q yêu cầu anh S phải trả cả gốc và lãi số tiền là 67.522.000 đồng (trong đó nợ gốc 66.000.000 đồng, lãi 1.522.000 đồng) và yêu cầu anh Nguyễn Hồng S phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh đến khi anh S trả xong nợ.
Tại phiên tòa, anh Cao Anh Q xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về phần lãi suất, chỉ yêu cầu Tòa án buộc anh S phải trả số tiền nợ gốc là 66.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Hồng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng, anh Nguyễn Hồng S biết việc anh Q khởi kiện đòi nợ nhưng vắng mặt không có lý do, việc anh S cố tình trốn tránh, không đến Tòa án để giải quyết vụ kiện là tự mình tước đi quyền của mình được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, anh S phải gánh chịu hậu quả bất lợi về pháp lý. Việc Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và Tòa án thu thập được.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự, còn đối với Bị đơn mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt nên phải chịu hậu quả pháp lý của việc Toà án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và tiếp tục tính lãi suất chậm thi hành án cho đến khi bị đơn trả xong nợ.
Tại phiên toà nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Ngày 15-3-2023 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, ngày 22-3-2023 Tòa án thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, ngày 28-3-2023 nguyên đơn nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý vụ án là đúng quy định tại Điều 191 và 195 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng dân sự” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về trình tự thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên không thể công khai chứng cứ, tiến hành đối chất, hoà giải và xét xử được theo quy định tại Điều 205, Điều 207, Điều 208 BLTTDS. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, do vậy Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 23/11/2022 anh Nguyễn Hồng S có vay của anh Cao Anh Q số tiền là 41.000.000 đồng và hẹn ngày 23/12/2022 sẽ thanh toán. Tiếp đó ngày 27/11/2022 anh Nguyễn Hồng S vay thêm của anh Cao Anh Q số tiền là 25.000.000 đồng và hẹn ngày 27/12/2022 sẽ trả, cả hai lần vay các bên có làm giấy tờ vay mượn và không thỏa thuận về lãi suất, tổng số tiền anh S đã vay là 66.000.000 đồng, hiện nay số nợ đã quá hạn, mặc dù anh Q nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng anh S cố tình trốn tránh không trả nợ là vi phạm quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Hồng S cũng thừa nhận chữ ký, chữ viết trong hai giấy vay tiền ngày 23/11/2022 và ngày 27/11/2022, lý do không thanh toán nợ là tiền hai bên cá độ bóng đá nhưng phía anh S không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh, nên HĐXX không chấp nhận lý do này.
Như vậy, việc anh Q khởi kiện yêu cầu anh S phải trả số tiền đã vay là 66.000.000 đồng là có căn cứ, nên HĐXX cần chấp nhận.
Đối với lãi suất anh Cao Anh Q rút yêu cầu, HĐXX thấy việc rút yêu cầu của anh Q là hoàn toàn tự nguyện, nên cần chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn anh Nguyễn Hồng S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cao Anh Q, buộc anh Nguyễn Hồng S phải trả cho anh Cao Anh Q số tiền 66.000.000 đồng.
Kể từ ngày 21/9/2023 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Về án phí: Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Anh Nguyễn Hồng S phải chịu 3.300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho anh Cao Anh Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.688.000 đồng theo biên lai thu số AA/2021/0018474 ngày 28/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo luật định.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND thị xã Buôn Hồ; - Chi cục THADS thị xã B; - Các đương sự; - Lưu VP Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Trương Kim Chung |