vanban.org

Bản án 46/2022/HSST — Hình sự

TAND TX. Bình Long, tỉnh Bình Phước Tuyên án 18/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên trả cho Nguyễn Thanh H: Một áo thun ngắn tay màu xám; Một quần Jean màu xanh nhạt; Một mũ bảo hiểm màu trắng có chử “Nón sơn”; Một điện thoại Nokia loại bàn phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH LONG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/HS-ST
Ngày: 18 – 11 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Châu

2. Ông Lê Đức Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tân Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânthị xã Bình Long tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Trần Hoàn - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 11 năm 2022, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2022/TLST - HS ngày 27 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thanh H, sinh năm 1997, tại tỉnh Bình Phước; Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ 6, ấp ThTh, xã ThPh, thị xã BL, tỉnh Bình Phước.Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Cha của bị cáo tên Nguyễn Văn L, sinh năm 1974 (đã chết) và mẹ của bị cáo tên Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1975; Cùng trú tại tổ 6, ấp ThTh, xã ThPh, thị xã BL, tỉnh Bình Phước. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Lê Thị Ngọc S, sinh năm 1994 (Xin vắng mặt)

Đăng ký Hộ khẩu thường trú: Ấp HThT, xã LH, huyện LN, tỉnh Bình Phước

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1975

Nơi Đăng ký Hộ khẩu thường trú: Tổ 6, ấp ThTh, xã ThPh, thị xã BL, tỉnh Bình Phước.

Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971

Trú tại: Ấp HTh, xã LTh, huyện LN, tỉnh Bình Phước

2. Anh Bùi Anh Th, sinh năm 2003

Trú tại: Tổ 5, ấp ThB, xã ThL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước.

3. Anh BLò Văn K, sinh năm 1997

Trú tại: Xã Đăk Rla, huyện Đăk Min, tỉnh Đăk Nông

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 08/9/2022, Nguyễn Thanh H uống nước tại quán giải khát “Cây Đủng Đỉnh” thuộc tổ 6, ấp ThK, xã Th L, thị xã BL. Trong lúc ngồi tại quán, H nhìn thấy chị Lê Thị Ngọc S là nhân viên phục vụ cầm trên tay một điện thoại di động nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt, H mượn điện thoại của chị S và sử dụng máy điện thoại này có số thuê bao 0987.900340 gọi vào điện thoại số 0328.015320 của H đang để ở nhà. Do chị S đứng bên cạnh, H không chiếm đoạt được nên đã trả lại điện thoại cho chị S. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, H đưa cho chị S tờ tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) để trả tiền nước rồi dắt xe mô tô HAMCO, biển số 93T2 - 7501 của H đứng gần chỗ chị S, tắt máy, dựng chân chống ngồi trên yên xe để chờ chị S trả lại tiền thừa cho H 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng). Lúc này H tiếp tục mượn điện thoại nên chị S đưa điện thoại cho H. H sử dụng máy điện thoại của chị S gọi vào số máy 0328.015320 rồi bất ngờ nổ máy điều khiển xe cầm theo điện thoại của chị S chạy ra đường quốc lộ 13 và bỏ chạy về hướng xã Thanh Phú. Chị S và chị Nguyễn Thị T cùng là nhân viên của quán nước vừa chạy bộ đuổi theo vừa truy hô “cướp, cướp”. Cùng lúc này có anh Bùi Anh Th và anh BLò Văn K đang điều khiển xe mô tô chạy trên đường quốc lộ 13 theo hướng huyện Lộc Ninh - thị xã Bình Long nghe tiếng tri hô nên đuổi theo đến đoạn thuộc tổ 3, ấp Thanh Hòa, xã Thanh Lương thì đuổi kịp, khống chế H đưa đến Công an xã Thanh Lương. Tại Công an, H thừa nhận việc chiếm đoạt điện thoại nên Công an xã lập biên bản tạm giữ một xe mô tô kiểu dáng Dream biển số 93T2-7501, một điện thoại Realme 9 màu vàng, có ốp lưng bằng nhựa, dán kính cường lực, bên trong có sim Viettel 4G số thuê bao 0987.900340 và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát - điều tra Công an thị xã Bình Long.

Tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan điều tra cho H xác định lại hiện trường nơi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị Lê Thị Ngọc S và hiện trường nơi H bị anh Bùi Anh Th và anh BLò Văn K khống chế. Kết quả H đã xác định đúng các vị trí trên.

Kết quả kiểm tra điện thoại của chị Lê Thị Ngọc S và Nguyễn Thanh H thể hiện từ 09 giờ 22 phút đến 09 giờ 55 phút, ngày 08/9/2022 số thuê bao 0987.900340 của chị S có gọi vào số thuê bao 0328.015320 của H 07 lần.

Tại biên bản nhận dạng ngày 08/9/2022, chị Lê Thị Ngọc S đã nhận ra được Nguyễn Thanh H chính là người chiếm đoạt điện thoại của chị S.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 27/KL - HĐĐGTS ngày 09/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bình Long kết luận: Một máy điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme 9, nắp lưng mặt sau màu vàng, máy có bộ nhớ 128Gb, Ram 8Gb, Imei 869207061031374 mua mới vào tháng 7/2022, thời điểm định giá tháng 9/2022 trị giá 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng); Một ốp lưng bằng nhựa trong suốt loại của điện thoại di động Realme 9, trị giá 5.000đ (Năm nghìn đồng); Một miếng dán cường lực của loại máy điện thoại di động nhãn hiệu Realme 9, trị giá 5.000đ (Năm nghìn đồng); Một sim 4G viettel, mã sim 8984048000320765645, số thuê bao 0987900340, trị giá 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng). Tổng cộng 5.590.000đ (Năm triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng).

Từ lúc bị phát hiện và trong suốt quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Thanh H đã khai nhận rõ việc chiếm đoạt điện thoại di động của chị S và nhanh chóng tẩu thoát bằng xe mô tô HAMCO, biển số 93T2 - 7501.

Bản cáo trạng số: 45/CT-VKS ngày 27/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long truy tố Nguyễn Thanh H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 171 của Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa, giữ quyền công tố, giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H mức án từ 1 (Một) năm đến 1 (Một) năm 6 (Sáu) tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Cơ quan điều tra đã xử lý, trả lại cho bị hại Lê Thị Ngọc S một điện thoại di động nhãn hiệu Realme 9 kèm theo miếng dán cường lực, một ốp lưng bằng nhựa và một sim điện thoại có số thuê bao 0987900340.

- Đối với một xe mô tô nhãn hiệu HAMCO, biển số 93T2-7501 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Ng mẹ ruột Nguyễn Thanh H. H tự ý sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội, bà Nga không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà Nga.

- Đối với một áo thun ngắn tay màu xám, một quần Jean màu xanh nhạt, 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng), một mũ bảo hiểm màu trắng, một điện thoại Nokia loại bàn phím màu xanh dương, bên trong có một sim điện thoại số thuê bao 0328.015320 tạm giữ để phục vụ công tác điều tra là tài sản của H, không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho Nguyễn Thanh H.

Về dân sự: Chị Lê Thị Ngọc S đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bình Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 08/9/2022 tại quán giải khát “Cây Đủng Đỉnh” thuộc tổ 6, ấp Thanh Kiều, xã Thanh Lương, thị xã Bình Long, bị cáo Nguyễn Thanh H đã có hành vi giả mượn của bị hại Lê Thị Ngọc S, một máy điện thoại di động tổng trị giá 5.590.000 đồng, bị cáo nhanh chóng nổ máy xe mô tô bỏ chạy, sau đó bị bắt giữ. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng trong vụ án về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 171 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thanh H đã nhận thức và hối hận về hành vi sai trái của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án thấp, để chấp hành tốt để sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình và hứa sẽ không tái phạm.

Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Vào hồi 10 giờ 00 phút, ngày 08/9/2022, Nguyễn Thanh H, sau khi uống nước tại quán giải khát “Cây Đủng Đỉnh” thuộc tổ 6, ấp Thanh Kiều, xã Thanh Lương, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước vì muốn chiếm đoạt tài sản của chị Lê Thị Ngọc S nên đã trả tiền nước và mượn chiếc điện thoại di động của chị S, lợi dụng lúc chị S tính tiền nước bị cáo H cầm điện thoại của chị S rồi nổ máy xe mô tô nhanh chóng tẩu thoát nhưng sau đó bị phát hiện, truy hô và bị bắt giữ cùng tang vật. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh H là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Tại thời điểm thực hiện tội phạm bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, nhưng vì tham lam, vụ lợi muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để sở hữu riêng cho bản thân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục rèn luyện trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội lần đầu trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi sai trái của mình, tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại Lê Thị Ngọc S đã thu hồi trả lại cho bị hại. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: Đối với một áo thun ngắn tay màu xám, một quần Jean màu xanh nhạt, 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng), một mũ bảo hiểm màu trắng, một điện thoại Nokia loại bàn phím màu xanh dương, bên trong có một sim điện thoại số thuê bao 0328.015320 tạm giữ để phục vụ công tác điều tra là tài sản của bị cáo H, cần trả lại cho Nguyễn Thanh H.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lê Thị Ngọc S đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường thêm gì nên không đặt ra.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 171; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt Nguyễn Thanh H 1 (Một) năm tù, thời hạn tính từ ngày chấp hành bản án.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên trả cho Nguyễn Thanh H: Một áo thun ngắn tay màu xám; Một quần Jean màu xanh nhạt; Một mũ bảo hiểm màu trắng có chử “Nón sơn”; Một điện thoại Nokia loại bàn phím màu xanh dương, bên trong có một sim điện thoại số thuê bao 0328.015320 và số tiền 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng), (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0002751 ngày 28/10/2022 giữa Công an thị xã Bình Long và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Long).

3. Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Ngọc S đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường thêm gì nên không đặt ra.

4. Án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ áncó mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ