- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn P phạm tội "Tàng trữ hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn P phạm tội: Tàng trữ hàng cấm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2022/HS-ST Ngày: 29-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cử và ông Lê Xuân Cung
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Đại -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Văn P - Sinh ngày 15 tháng 6 năm 1980 tại: xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm 5, xã M, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và con bà Đinh Thị T; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị L và có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: không; nhân thân:
- Tại bản án số 12/2007/HSST ngày 14/9/2007 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Lê Văn P 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Lê Văn P kháng cáo, tại bản án số 33/2007/HSPT ngày 26/11/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã sửa bản án, xử phạt Lê Văn P 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng. Bị cáo Lê Văn P đã chấp hành xong hình phạt tù cho hưởng án treo. Bị cáo đã chấp hành xong án phí ngày 10/01/2008.
- Tại bản án số 109/2013/HSST ngày 15/8/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Lê Văn P 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Lê Văn P chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2013 và án phí ngày 08/11/2013.
- Tại bản án số 38/2019/HSST ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Lê Văn P 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Lê Văn P kháng cáo, tại bản án số 03/2020/HSPT ngày 09/01/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã sửa bản án, xử phạt Lê Văn P 06 tháng tù. Bị cáo Lê Văn P chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/3/2020 và án phí ngày 17/01/2020.
Bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 38/2022/LCĐKNCT-TA ngày 29/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô (có mặt).
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị L (vắng mặt);
Người chứng kiến: Anh Đinh Văn T (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong một lần Lê Văn P đi bộ từ chỗ làm về nhà ở xóm 5, xã M, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (P không nhớ chính xác thời gian), khi đi đến Quốc lộ 1A thuộc địa phận xóm 6, xã Mai Sơn, huyện Yên Mô thì Lê Văn P đã gặp một người đàn ông (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) điều khiển xe ô tô loại Container (không xác định được biển kiểm soát) đang dừng ở ven đường. Khi thấy Phi đi đến gần thì người đàn ông này nói “Em còn ít pháo hoa Tết chơi chưa hết, anh có lấy về chơi em để rẻ cho”. Thấy vậy Phi liền hỏi “Còn loại nào, bán như nào”. Người đàn ông trả lời “Em còn 03 hộp 36 quả và 02 hộp 49 quả, anh lấy cả em để cho anh 4.000.000 đồng”. Lê Văn P đồng ý và nói “Vậy thì để lại cho anh”. Người đàn ông này liền đi lên ca bin của xe ô tô lấy xuống 05 hộp pháo (gồm 03 hộp loại 36 quả và 02 hộp loại 49 quả) đưa cho P. Sau khi xem xong thì Lê Văn P nhất trí mua đồng thời lấy số tiền 4.000.000 đồng đưa cho người này. Sau khi mua được số pháo trên thì Lê Văn P đã nhặt 01 tấm bạt màu xanh - cam kích thước khoảng (1x1)m ở ven đường đem bọc 05 hộp pháo lại mang về nhà mình. Khi đem về nhà Lê Văn P đã vất tấm vải bạt mầu xanh – cam đi và cất giấu 05 hộp pháo tại vị trí gầm giường trong phòng ngủ của gia đình nhằm mục đích sử dụng đốt vào dịp Tết Quý Mão 2023. Quá trình cất giấu số pháo trên thì Lê Văn P chưa sử dụng lần nào.
Ngày 24/10/2022, Công an huyện Yên Mô sau khi nhận được báo cáo của Công an xã Mai Sơn về việc Lê Văn P có biểu hiện nghi vấn tàng trữ pháo nổ. Biết không thể che giấu được hành vi phạm tội nên Lê Văn P đã tự nguyện ra đầu thú, thừa nhận hành vi cất giấu trái phép 05 hộp pháo hoa (gồm 03 hộp loại 36 quả và 02 hộp loại 49 quả) tại nhà. Sau đó, Tổ công tác Công an huyện Yên Mô đã phối hợp với Công an xã Mai Sơn tiến hành thu giữ tại vị trí gầm giường trong phòng ngủ của gia đình Lê Văn P 03 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm hình dạng giống nhau, kích thước mỗi hộp là (15x14,5x12,5)cm, một mặt bìa cát tông màu nâu, năm mặt còn lại bọc giấy in hoa nhiều màu sắc (màu chủ đạo là xanh, đen) có in chữ nước ngoài. 02 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm hình dạng giống nhau, kích thước mỗi hộp là (17,5x18x10)cm, một mặt bìa cát tông màu nâu, năm mặt còn lại bọc giấy in hoa nhiều màu sắc (màu chủ đạo là đỏ, đen) có in chữ nước ngoài do Lê Văn P tự giác giao nộp.
Công an huyện Yên Mô đã tiến hành cân xác định khối lượng pháo nổ đã thu giữ của Lê Văn P:
- 03 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm hình dạng giống nhau kích thước (15x14,5x12,5)cm, một mặt bìa cát tông màu nâu, năm mặt còn lại bọc giấy in hoa nhiều màu sắc (màu chủ đạo là xanh, đen) có in chữ nước ngoài. Mỗi khối hình hộp có khối lượng là 1,4kg, tổng trọng lượng là 4,2kg; ký hiệu M1
- 02 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm hình dạng giống nhau, kích thước (17,5x18x10)cm, một mặt bìa cát tông màu nâu, năm mặt còn lại bọc giấy in hoa nhiều màu sắc (màu chủ đạo là đỏ, đen) có in chữ nước ngoài. Mỗi khối hình hộp có khối lượng là 1,9kg, tổng trọng lượng là 3,8kg; ký hiệu M2.
Tổng trọng lượng của các hộp ký hiệu M1 và ký hiệu M2 là 8,0kg được niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông kích thước (28x20x43)cm theo quy định để tiến hành trưng cầu giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 766/KLGĐ-KTHS-ChN ngày 03/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
- 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật bọc giấy ký hiệu M1 và 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật bọc giấy ký hiệu M2 gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (còn được gọi là pháo hoa nổ).
- Khối lượng của 03 hộp pháo nổ ký hiệu M1 là 4,2kg (bốn phẩy hai kilôgam), khối lượng của 02 hộp pháo nổ ký hiệu M2 là 3,8kg (ba phẩy tám kilôgam). Tổng khối lượng của 05 hộp pháo trong mẫu ký hiệu M1 và M2 gửi giám định là 8,0kg (tám kilôgam).
Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 03 (ba) hộp pháo nổ ký hiệu M1 còn lại là 3,937kg; 02 (hai) hộp pháo nổ ký hiệu M2 còn lại là 3,462kg, được niêm phong trong 01 thùng cát tông, dán giấy niêm phong có chữ ký của ông Lương Văn Hải và Bùi Xuân Hinh và 01 dấu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình, trên giấy niêm phong có ghi “Mẫu vật sau giám định kèm theo kết luận giám định số 766/KLGĐ-KTHS-ChN ngày 03/11/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự (Quyết định trưng cầu giám định số 68/QĐ-ĐTHS ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Công an huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình”.
Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 29 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Lê Văn P ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn P phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn P từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Văn P cho Uỷ ban nhân dân xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo thường trú, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn P.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: số pháo nổ thu giữ của Lê Văn P còn lại sau khi giám định là 7,399kg được đựng trong thùng cát tông niêm phong theo quy định.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã nêu. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo Lê Văn P tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định số 766/KLGĐ-KTHS-ChN ngày 03/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 24/10/2022, tại gia đình Lê Văn P ở xóm 5, xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, Lê Văn P đã có hành vi tàng trữ trái phép 05 hộp pháo nổ (gồm 03 hộp loại 36 quả và 02 hộp loại 49 quả) có tổng khối lượng 8,0kg nhằm sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, một khách thể quan trọng được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ pháo nổ là hàng cấm nhưng vẫn cố ý mua và cất giấu 8,0kg pháo nổ tại nhà. Hành vi của bị cáo Lê Văn P đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự nên việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đối với bị cáo theo bản Cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
…”
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Văn P không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Lê Văn P đã 3 lần bị kết án nhưng đều đã được xóa án tích.
Về hình phạt: bị cáo Lê Văn P tàng trữ trái phép 08kg pháo nổ tại nhà vì có suy nghĩ đơn giản, thấy rẻ mua về để chơi tết chứ không nhằm mục đích mua bán, thu lợi bất chính. Bản thân bị cáo có nơi cư trú ổn định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Với hình phạt lần này cũng đủ để bị cáo rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc cho bản thân và không bao giờ phạm sai lầm nữa.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn P.
Về nguồn gốc pháo nổ: Lê Văn P khai mua người đàn ông ven đường QL1A, kết quả điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đã bán pháo cho Phi nên không đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Số pháo nổ thu giữ của Lê Văn P còn lại sau khi giám định là 7,399kg được đựng trong thùng cát tông niêm phong theo quy định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn P phạm tội: Tàng trữ hàng cấm.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn P 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 29/12/2022.
Giao bị cáo Lê Văn P cho Uỷ ban nhân dân xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo thường trú, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy: số pháo nổ thu giữ của Lê Văn P còn lại sau khi giám định là 7,399kg được đựng trong thùng cát tông niêm phong theo quy định.
Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mô ngày 29/11/2022.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện Yên Mô; - Cơ quan CSĐT và Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Yên Mô; - Chi cục THADS huyện Yên Mô; - Bị cáo; - Lưu: hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thu Minh |