vanban.org

Bản án 46/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 31/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật, tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo V 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/HSST
Ngày: 31-5-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà V Thị Vân Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Khang, ông Nguyễn Xuân Lưu

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thành-Thẩm tra viên

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Diệp-Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2022/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/HSST-QĐ ngày 18 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: V, Giới tính: Nam; Sinh ngày 24 tháng 11 năm 1994 tại Hà Nội; Nơi ĐKNKTT và nơi ở: Thôn N, xã X, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; con ông Kvà bà Đ; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

Người bị hại:

Anh T, sinh năm 1982; chị P, sinh năm 1989; cùng trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà U, sinh năm: 1959; trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Với mục đích đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 23 giờ ngày 12/10/2021, V đã chuẩn bị 01 dùi cui điện, 01 kéo bằng kim loại, 01 đèn pin, 01 chiếc găng tay và tháo biển số: 29Y1-527.69 của xe mô tô Honda Winner X màu đỏ đen của V rồi để ở nhà để nhằm mục đích đi loanh quanh xem có ai sơ hở tài sản thì trộm cắp. Sau đó, V điều khiển xe mô tô Honda Winner X màu đỏ đen không lắp biển số đi đến khu vực xã Đông La, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội thì thấy nhà bà U không khóa cửa nhà mà chỉ khóa ngoài cổng. Lúc này, V đi xe mô tô ra hướng Đại lộ Thăng Long cách nhà bà U khoảng 01km, dừng xe ở lề đường, sau đó khóa cổ xe rồi đi bộ đến nhà bà U. Khi đến nơi, V trèo tường phía cổng trước để vào nhà trộm cắp tài sản. V lục lọi tại tầng 1 nhưng không lấy tài sản gì rồi đi lên tầng 2 vào phòng ngủ của vợ chồng anh T (con trai bà U) lục lọi và trộm cắp 01 con lợn tiết kiệm bằng thạch cao và 01 con lợn tiết kiệm bằng nhựa của vợ chồng anh T rồi mang cả hai con lợn đất lên trên tầng 3 để đập, cắt 02 con lợn trên và lấy toàn bộ số tiền bên trong rồi bỏ vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. Đến khoảng 00 giờ 50 phút ngày 13/10/2021, anh T và bố là ông Nguyễn Tài Huyền đi xem bóng đá từ nhà hàng xóm đi về thì anh T phát hiện bị mất trộm tài sản, kiểm tra camera an ninh của gia đình phát hiện có người đột nhập vào nhà trộm cắp tài sản nên đã báo cho Công an xã Đđến. Sau đó anh T cùng lực lượng Công an xã Đtruy bắt V, lúc này V đang ở trên tầng 3 nhà bà U giật mình nên dùng dùi cui điện bấm kêu “tạch tạch” để dọa, không gây thương tích cho ai, khoảng cách 05m nên không trúng ai, rồi bỏ chạy lên mái tôn tầng 3 và trèo từ mái tôn tầng 3 xuống dưới thì bị ngã và bị thương. Sau đó, V được lực lượng công an đưa đến Trạm y tế xã Đkhám. Sau đó, lực lượng Công an chU V đến Bệnh viện 103 điều trị.

Quá trình kiểm tra trong túi quần phía trước bên phải của V có 4.945.000 đồng (Bốn triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng), V khai đây là toàn bộ số tiền V lấy được từ 02 con lợn tiết kiệm.

Gia đình nhà bà U bị mất tài sản gồm: 01 con lợn tiết kiệm bằng thạch cao màu vàng và 01 con lợn tiết kiệm bằng nhựa màu hồng bên trong có đựng tiền tiết kiệm.

V bị rách môi trên khoảng 1,5cm, cằm bị 01 vết trợt da kích thước (3x3) cm, gãy kín đầu dưới xương cẳng tay trái, đầu dưới xương cẳng chân phải.

Tại kết luận định giá tài sản số 476/KL-HDĐGTS ngày 27/10/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Hoài Đức kết luận: 01 con lợn tiết kiệm làm bằng chất liệu thạch cao màu vàng trị giá 28.000 đồng (hai mươi tám nghìn đồng) và 01 con lợn tiết kiệm làm bằng chất liệu nhựa màu hồng trị giá 8.700 đồng (tám nghìn bảy trăm đồng). Tổng trị giá: 36.700 đồng (Ba mươi sáu nghìn bảy trăm đồng).

Tại Bản kết luận giám định số 7850/C09-P3 ngày 19/11/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: mẫu vật gửi giám định là dùi cui điện, thuộc công cụ hỗ trợ.

Ngày 19/11/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 480 trưng cầu Viện khoa học hình sự, Bộ Công an để giám định thương tích và cơ chế hình thành thương tích đối với Nguyên Văn V. Tuy nhiên, V đã có đơn từ chối đi giám định thương tích với lý do thương tích của V là trong quá trình đi trộm cắp tài sản bị người dân và lực lượng Công an phát hiện truy đuổi, V bỏ chạy và trèo từ mái tôn tầng 3 xuống dưới thì bị ngã dẫn đến thương tích.

Ngày 29/12/2021, Công an huyện Hoài Đức đã ra Quyết định xử lý hành chính đối với V về hành vi: “Sử dụng công cụ hỗ trợ trái quy định nhưng chưa gây hậu quả” bằng hình thức phạt tiền với mức 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), ngày 31/12/2021 V đã chấp hành nộp phạt theo quy định.

* Tại bản Cáo trạng số 49/CT-VKSHĐ ngày 13/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

-Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự

+ Tuyên bố bị cáo V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Xử phạt bị cáo V từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, do vậy đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung-phạt tiền đối với bị cáo.

- Về bồi thường dân sự: Gia đình bà U, anh T, chị P đã nhận lại toàn bộ số tiền bị mất và không có đề nghị gì đối với 02 con lợn tiết kiệm bằng nhựa và bằng thạch cao, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

-Về vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

*Lời nói sau cùng, bị cáo thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra–Công an huyện Hoài Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, sơ đồ hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thu thập được, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ ngày 12/10/2022, V đã vào nhà bà U tại Thôn L, xã Đ, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trộm cắp 02 con lợn đựng tiền tiết kiệm của vợ chồng anh T bên trong có tổng số tiền 4.945.000 đồng và trị giá 02 con lợn tiết kiệm là 36.700 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản V trộm cắp là 4.981.700 đồng.

Bị cáo lợi dụng sơ hở, đã lén lút trộm cắp tổng trị giá tài sản 4.981.700 đồng của anh T, chị Phượng nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Khi đi trộm cắp, bị cáo mang theo dùi cui-dụng cụ hỗ trợ tuy nhiên bị cáo không sử dụng hành hung người khác để tẩu thoát. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố và kết luận là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và góp phần răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Bộ luật hình sự, theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018, xét cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung-phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử ghi nhận gia đình bà U, anh T, chị P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

-Cho tịch thu tiêu hủy 01 (một) kéo bằng kim loại, có quai nhựa màu tím; 01 dùi cui điện màu đen, trên thân có ghi “60000k VOLT, 928 TYPE MADE IN USA”; 01 (một) khẩu trang y tế màu đen bị đứt dời một bên quai; một số mảnh vỡ bằng thạch cao màu trắng, vàng; 01 (một) con lợn tiết kiệm bằng nhựa, màu hồng, bên trên đã bị rạch rách gần lìa đôi; 01 chiếc găng tay bằng vải màu đen; 01 chiếc đèn pin màu vàng kích thước 1,5cmx09cm.

-Tiếp tục cho lưu giữ tại hồ sơ 01 USB (BL68a) là hình ảnh vụ trộm.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về án phí:

B

sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật, tội danh và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo V 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo V cho Uỷ ban nhân dân xã X, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về Dân sự: Căn cứ Điều 584,585,589 Bộ luật Dân sự

Ghi nhận: Gia đình bà U, anh T, chị P không yêu cầu gì về bồi thường dân sự đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

-Tiếp tục cho lưu giữ tại hồ sơ 01 USB (BL68a) là hình ảnh vụ trộm do bà U giao nộp.

-Cho tịch thu tiêu hủy 01 (một) kéo bằng kim loại, có quai nhựa màu tím; 01 dùi cui điện màu đen, trên thân có ghi “60000k VOLT, 928 TYPE MADE IN USA”; 01 (một) khẩu trang y tế màu đen bị đứt dời một bên quai; một số mảnh vỡ bằng thạch cao màu trắng, vàng; 01 (một) con lợn tiết kiệm bằng nhựa, màu hồng, bên trên đã bị rạch rách gần lìa đôi; 01 chiếc găng tay bằng vải màu đen; 01 chiếc đèn pin màu vàng kích thước 1,5cmx09cm (các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội, có tình trạng, đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2022).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần quyết định liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ