vanban.org

Bản án 46/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 11/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Xuân B phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hà Xuân B 01 (Một ) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 11/8/2022. Giao bị cáo Hà Xuân B cho UBND xã N B, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Xuân B phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/HSST
Ngày 11/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Quân;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Minh Hải và Bà Võ Thị Thanh Huệ;

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lâm Oanh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông. Tòa án nhân dân huyện Đắk Song mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2022/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2022; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 22/2022/HSST –QĐ ngày 26/7/2022 đối với bị cáo:

Hà Xuân B; sinh năm 1991 tại Đồng Nai; Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã N B, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông; trình độ văn hóa: 4/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Hà D ( đã chết) và bà Vũ Thị Th, sinh năm 1964; có vợ là Trần Thị H, sinh năm 1993 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016 con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 15/3/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm xử phạt 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luạt hình sự theo bản án số 25/2012/HS-PT ngày 15/03/2012. Chấp hành án tại Trại giam Đắk Tân thuộc cục số 10 Bộ Công An, ngày 10/02/2013 chấp hành xong án phạt tù và toàn bộ bản án về sinh sống tại địa phương. Hiện đã được xóa án tích theo quy định. Hiện tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa;

Người bị hại: Ông Tô Quang H, sinh năm 1968; trú tại: Thôn Th N, xã Th H, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt tại phiên tòa;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Bỉnh V, sinh năm 1992; trú tại: Thôn Th N, xã Th H, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt tại phiên tòa;

+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1998; trú tại: thôn M, xã N B, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt tại phiên tòa;

+ Ông Chu Văn Đ, sinh năm 1983; trú tại: Thôn T, xã T T, huyện C J, tỉnh Đắk Nông – Có mặt tại phiên tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đước tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 25/01/2022, Hà Xuân B (sinh năm 1991, nơi cư trú thôn B, xã N B, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông) điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 48D1-018.08 đi từ hướng quốc lộ 14C Ngã ba Đồn T về Ủy ban nhân dân xã Th H, huyện Đ S, khi đi ngang qua giữa quán cơm Ng B và tiệm sửa chữa xe máy thuộc Thôn Th N, xã Th H, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông thì phát hiện ở bên tay phải theo hướng đi có một xe càng vô lăng sử dụng đầu máy nổ hiệu VIKYNO DIESE EV2400.NA thùng dầu màu đỏ, kéo theo một khung thùng xe được đóng bằng sắt của ông Tô Quang H (sinh năm 1968, trú tại thôn Th N, xã Th H, Huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông) đang để ở bãi đất trống không có người trông coi nên B nảy sinh ý định lấy trộm, B điều khiển xe mô tô quay lại vào một quán nước gần đó, cách khoảng 50 m để theo dõi, quan sát. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, lúc này vắng người qua lại B điều khiển xe mô tô giấu trong bụi cây ven đường đất bên cạnh công ty gỗ MDF Bison cách vị trí để xe càng khoảng 500 m, rồi đi bộ quay lại vị trí để xe càng, tháo dây curoa đầu máy nổ ra, cài hộp số, dùng tay xoay hộp côn của xe càng thì xe bắt đầu di cHển chậm ra đường quốc lộ 14C. B lên vô lăng lái cho xe càng về ngã ba hướng đi vào Ủy ban nhân dân xã Th H và tiếp tục xoay côn để xe càng di cHển khoảng 20 m thì cho xe dừng phía bên phải đường, thấy đã an toàn nên B lấy dây curoa đã tháo lắp vào đầu máy nổ và lấy tay quay để sẵn trong thùng xe để quay cho máy nổ, điều khiển xe càng đến nơi giấu xe mô tô đưa xe môtô lên thùng xe càng, rồi điều khiển xe càng đến Ngã ba chốt 34, rẽ trái vào bãi rác thị trấn Đ A cất giấu xe càng, phía sau mấy cây thông ngay cạnh bãi rác, đưa xe môtô xuống khỏi thùng xe càng và điều khiển xe mô tô về nhà ngủ. Đến khoảng 16 giờ, ngày 26/01/2022 B đi xe mô tô BKS 48D1-018.08 đến chỗ giấu xe càng, điều khiển xe càng đến nhà Nguyễn Bỉnh V (sinh năm 1992), Nguyễn Thị L (sinh năm 1998) cùng trú thôn M, xã N B, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông vay số tiền 20.000.000 đồng, để lại xe càng làm tin, hẹn trong thời gian 01 tháng sẽ quay lại chuộc xe. Vợ chồng V đồng ý. Sau đó B quay lại bãi rác thị trấn Đ A để lấy xe môtô, mang số tiền vay được đi tiêu xài cá nhân hết. Hành vi trộm cắp xe càng của B sau đó bị phát hiện, xử lý.

Tại Bản kết luận định giá tài sản và biên bản định giá tài sản số 15/BB-HĐĐGTS ngày 06/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự: Giá trị còn lại thành tiền của chiếc xe càng vô lăng sử dụng đầu máy nổ hiệu VIKYNO DIESE EV2400.NA thùng dầu màu đỏ, kéo theo một khung thùng xe được đóng bằng sắt có kích thước 04m x 1.6 m đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 26/01/2022 trị giá 35.600.000 đồng.

* Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 xe càng VIKYNO DIESE EV2400.NA thùng dầu màu đỏ đã qua sử dụng là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Tô Quang H nên ngày 09/5/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã ra trả lại cho ông H là phù hợp.

Đối với Biển kiểm soát 48D1-018.08 qua tra cứu, xác minh là chủ sở hữu của anh Chu Văn Đ, quá trình điều tra xác định anh Đ sử dụng làm rơi BKS 48D1-018.08 nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã trả lại anh Đ.

Đối với xe mô tô có số máy VTTNKS1P50FMG103011, số khung RRKDCGVUMAX103011 gắn BKS 48D1-018.08 mà Hà Xuân B sử dụng đi trộm cắp tài sản, B khai nhận mua một người (không rõ nhân thân, lại lịch) ở thôn T, xã N B, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông. Quá trình điều tra, tra cứu không có số khung, số máy nêu trên và kết luận giám định ngày 27/4/2022 thể hiện số khung đã bị hàn, mài mòn nên cần tách ra để xác minh, xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 45/CT-VKS-DS ngày 04/7/2022 của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song truy tố bị cáo Hà Xuân B về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Đắk Song, tỉnh Đăk Nông truy tố là đúng, không oan.

Tại phiên toà, vị Đ diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Vào khoảng 22 giờ ngày 25/01/2022 tại thôn Th Th, xã Th H, Huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông, Hà Xuân B đã trộm cắp một xe càng vô lăng sử dụng đầu máy nổ hiệu VIKYNO DIESE EV2400.NA thùng dầu màu đỏ, kéo theo một khung thùng xe của ông Tô Quang H trị giá 35.600.000 đồng. Sau đó dùng xe càng này để làm tin, vay mượn số tiền 20.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị L rồi lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Hành vi của bị cáo Hà Xuân B đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản”.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hà Xuân B về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ được quy định như sau: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo đã bồi thường khắc phục thiệt hại cho người bị hại với số tiền là 5.000.000 đồng và bị cáo được người bị hại làm đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Hà Xuân B từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 (Hai mươi tư) tháng đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 11/8/2022.

* Vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe càng VIKYNO DIESE EV2400.NA thùng dầu màu đỏ đã qua sử dụng là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Tô Quang H nên ngày 09/5/2022 Cơ quan CSĐT Công an Huyện Đắk Song đã ra trả lại cho ông H là phù hợp.

Đối với Biển kiểm soát 48D1-018.08 qua tra cứu, xác minh là chủ sở hữu của anh Chu Văn Đ, quá trình điều tra xác định anh Đ sử dụng làm rơi BKS 48D1-018.08 nên Cơ quan CSĐT Công an Huyện Đắk Song đã trả lại anh Đ.

Đối với xe mô tô có số máy VTTNKS1P50FMG103011, số khung RRKDCGVUMAX103011 gắn BKS 48D1-018.08 mà Hà Xuân B sử dụng đi trộm cắp tài sản, B khai nhận mua một người (không rõ nhân thân, lại lịch) ở thôn 8, xã Nam B, Huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông. Quá trình điều tra, tra cứu không có số khung, số máy nêu trên và kết luận giám định ngày 27/4/2022 thể hiện số khung đã bị hàn, mài mòn nên cần tách ra để xác minh, xử lý sau.

*Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự tự nguyên bồi thường của bị cáo và người bị hại với số tiền là 5.000.000 đồng; người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết.

Phần tranh luận bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì với vị Đ diện Viện kiểm sát chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 25/01/2022, lợi dụng chủ sở hữu trong việc trông coi tài sản nên Hà Xuân B đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là chiếc xe càng vô lăng sử dụng đầu máy nổ hiệu VIKYNO DIESE EV2400.NA thùng dầu màu đỏ, kéo theo một khung thùng xe được đóng bằng sắt có kích thước 04m x 1.6 m đã qua sử dụng của ông Tô Quang H đang dựng tại thôn Th Th, xã Th H, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông. Sau đó, B mang chiếc xe càng này cắm lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Sau đó bị phát hiện;

Tại Bản kết luận định giá tài sản và biên bản định giá tài sản số 15/BB-HĐĐGTS ngày 06/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự: Giá trị còn lại thành tiền của chiếc xe càng vô lăng sử dụng đầu máy nổ hiệu VIKYNO DIESE EV2400.NA thùng dầu màu đỏ, kéo theo một khung thùng xe được đóng bằng sắt có kích thước 04m x 1.6 m đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 26/01/2022 trị giá 35.600.000 đồng (Ba mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng)

Hành vi của bị cáo Hà Xuân B đủ yếu tố cấu thành tội: “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

…

Xét về tính chất mức độ và hậu quả của hành vi của bị cáo: Bị cáo đã trực tiếp xâm phạm về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản được thu hồi trả cho người bị hại, bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bị cáo được người bị hại xin giảm nhẹ TNHS, bị cáo có nơi cư trú ổn định nên HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội mà cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo là phù hợp.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi thực hiện hành vi phạm tôi bị cáo đã bồi thường khắc phục hâu quả cho người bị hại với số tiền là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng); bị cáo được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo thuộc diện hộ nghèo tại địa phương đây các là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên HĐXX sẽ xem xét các tình tiết giảm nhẹ TNHS khi quyết định hình phạt đối với bị cáo;

Đối với anh Nguyễn Bỉnh V, chị Nguyễn Thị L cho bị cáo Hà Xuân B vay mượn số tiền 20.000.000 đồng và để lại chiếc xe càng làm tin. Anh V, chị L không biết là tài sản do trộm cắp mà có, nên không đặt vấn đề xử lý.

Về vật chứng vụ án: Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an Huyện Đắk Song đã trả 01 xe càng VIKYNO DIESE EV2400.NA thùng dầu màu đỏ đã qua sử dụng là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Tô Quang H; trả lại Biển kiểm soát 48D1-018.08 qua tra cứu, xác minh là chủ sở hữu của anh Chu Văn Đ, quá trình điều tra xác định anh Đ sử dụng làm rơi BKS 48D1-018.08.

Đối với xe mô tô có số máy VTTNKS1P50FMG103011, số khung RRKDCGVUMAX103011 gắn BKS 48D1-018.08 mà Hà Xuân B sử dụng đi trộm cắp tài sản, B khai nhận mua một người (không rõ nhân thân, lại lịch) ở thôn T, xã N B, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông. Quá trình điều tra, tra cứu không có số khung, số máy nêu trên và kết luận giám định ngày 27/4/2022 thể hiện số khung đã bị hàn, mài mòn nên cần tách ra để xác minh, xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận tiền bồi thường của bị cáo với số tiền là 5.000.000 đồng và người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bỉnh V, chị Nguyễn Thị L đã nhận lại số tiền của bị cáo và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố Nhà Nước tại phiên tòa hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ và cần chấp nhận.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hà Xuân B phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 khoản 2 khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Hà Xuân B 01 (Một ) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 11/8/2022.

Giao bị cáo Hà Xuân B cho UBND xã N B, huyện Đ S, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí HSST: Áp dụng khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14. Buộc bị cáo Hà Xuân B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể nhận được bàn án hoặc ngày niêm yết bản bán.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại chính quyền địa phương.

3. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ