vanban.org

Bản án 46/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 11/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Phan Văn Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Bị cáo Phan Văn Ph 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn Ph về tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 46/2022/HS-ST
Ngày 11/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Tâm

2. Ông Lê Văn Phụng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vỉnh – Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2022/TLST-HS ngày 03 tháng

10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2022/QĐXXST-HS ngày

24 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đối

với bị cáo:

Phan Văn Ph, sinh năm 1988 tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; nơi cư

trú: Khóm LH, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê;

trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc

tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Phan Thị Hoài D, sinh

năm 1968; vợ là bà Huỳnh Ngọc A, sinh năm 1992 (đã ly hôn); có 01 người con

tên Phan Huỳnh Lệ H, sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 07/5/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại

phiên tòa.

- Bị hại: Ông Phan Văn L, sinh năm 1962; địa chỉ: Khóm LH, thị trấn

CM, huyện CM, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp PH, xã TH, huyện TH, tỉnh

Kiên Giang (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Dương Thị M,

sinh năm 1944 (đã chết vào ngày 12/10/2022).

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Dương Thị M:

1. Ông Phan Văn L, sinh năm 1962; địa chỉ: Khóm LH, thị trấn CM,

huyện CM, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp PH, xã TH, huyện TH, tỉnh Kiên Giang (có mặt);

2. Ông Phan Văn B, sinh năm 1965; địa chỉ: Khóm LH, thị trấn CM,

huyện CM, tỉnh An Giang (có mặt);

3. Bà Phan Thị Hoài D, sinh năm 1968; địa chỉ: Khóm LH, thị trấn CM,

huyện CM, tỉnh An Giang (có mặt);

4. Bà Phan Thị Hoài M, sinh năm 1970; địa chỉ: Khóm LH, thị trấn CM,

huyện CM, tỉnh An Giang (có mặt);

5. Ông Phan Phước T, sinh năm 1981; địa chỉ: Khóm LH, thị trấn CM,

huyện CM, tỉnh An Giang (có mặt).

(Là con ruột của bà Dương Thị M)

- Người làm chứng:

+ Bà Phan Thị Hoài D (có mặt);

+ Bà Trần Thị H (có mặt);

+ Anh Phan Phước T (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 15/11/2020, sau khi uống rượu cùng

bạn bè ở khu vực kênh Đòn Dong, Phan Văn Ph về nhà và nằm võng trước nhà của Ph tại Khóm LH, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang để chơi game. Khi nằm võng tại nhà, Ph nghĩ rằng Phan Văn L (cậu ruột của Ph) đặt các chậu mai lên phần đất nhà mình nên Ph chửi thô tục. Lúc này, Phan Văn L đang làm việc tại nhà, nghe tiếng Ph chửi thề thì L đi từ nhà sau ra sân nhà Ph nói chuyện với Ph thì hai bên xảy ra cự cãi. Thấy Ph đang say xỉn, sợ xảy ra chuyện không hay nên L bỏ đi vào nhà rồi tiếp tục công việc của mình. Còn Ph thì đi vào nhà Ph lấy 02 con dao để trên bàn ở gian nhà trước cầm trên hai tay: Tay phải cầm 01 con dao Thái Lan, cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, lưỡi dao hướng ra sau; tay trái cầm 01 con dao Thái Lan, cán dao bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, lưỡi dao hướng ra sau chạy theo đường hẻm ra nhà L để tìm L gây thương tích. Trong khi đó, L đang ngồi ở đường hẻm thì nghe tiếng Ph chửi thề, L đứng dậy nhìn theo đường hẻm hướng về nhà Ph thì thấy Ph đang cầm 02 con dao trên hai tay đi bộ về phía L. Khi Ph đến cách L khoảng 01m đến 1,5m thì L nói “mày xỉn rồi, khi nào hết xỉn thì nói chuyện”, rồi L quay người lại để đi vào nhà mình. Lúc này, Ph chạy lên song song với L, tay phải cầm dao đâm từ trái qua phải trúng vào vùng bụng của L 01 cái và rút dao rồi bỏ chạy ra nhà bà Dương Thị M (bà ngoại của Ph) và nói với bà M là “con lỡ đâm cậu L rồi”. Sau đó, Ph ném bỏ con dao Thái Lan, cán bằng

nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng vào bồn nuôi cá của bà M rồi

tiếp tục chạy đến hồ cá của ông Trần Văn S (BK) ném bỏ con dao còn lại xuống

ao cá. Sau đó, Ph đến Công an thị trấn CM đầu thú về hành vi phạm tội của

mình. Còn L thì được gia đình đưa đến Trung tâm y tế huyện CM và Bệnh viện

đa khoa Trung tâm An Giang cấp cứu đến ngày 24/11/2020 L ra viện.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 224/22/TgT ngày 02/5/2022

của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh An Giang, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ

thể do thương tích gây nên của Phan Văn L:

- Sẹo hạ sường trái, trùng với vết mở thêm, đứng dọc, kích thước

(3,5x0,5)cm, sẹo lồi, sậm màu, bờ thẳng. Thấu bụng: Thủng gan hạ phân thùy

III, đã phẫu thuật khâu gan cầm máu. Thủng mạc nối nhỏ;

- Sẹo mổ đường trắng giữa trên dưới rốn, kích thước (16x0,5)cm;

- Sẹo dẫn lưu vùng hông trái, kích thước (1,5x0,1)cm.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 34%.

Kết luận khác: Thương tích do vật sắc nhọn gây nên.

Ngày 06/5/2022, Phan Văn Ph bị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an

huyện Chợ Mới khởi tố, điều tra.

Tại Bản cáo trạng số 53/CT-VKSCM ngày 03 tháng 10 năm 2022, Viện

kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Phan Văn Ph về tội “Cố ý

gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã

được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Phan Văn Ph thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung của Bản

cáo trạng và khai nhận: Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 15/11/2020, sau khi uống

rượu, trong lúc bị cáo đang nằm võng trước nhà của bị cáo thì thấy nhiều chậu

mai đặt ngay đường đi trước sân nhà của bị cáo nên bị cáo mới lớn tiếng chửi

thề thô tục thì ông L (cậu ruột của bị cáo) la mắn bị cáo nên bị cáo và ông L mới

xảy ra cự cãi. Bị cáo vào nhà lấy 02 cây dao Thái Lan đang để trên bàn ở gian

nhà trước, tay phải cầm dao cán nhựa màu vàng, tay trái cầm dao cán nhựa màu

đen. Khi gặp ông L, bị cáo tiến đến cầm dao Thái Lan màu vàng trên tay phải

đâm vào người của ông L một cái rồi bị cáo rút dao bỏ chạy. Do đã say rượu nên

bị cáo cũng không nhớ chính xác tư thế bị cáo cầm dao đâm bị hại như thế nào,

chỉ nhớ cầm dao Thái Lan, cán dao màu vàng trên tay phải đâm vào vùng bụng

bên trái của bị hại một cái. Sau khi đâm ông L, bị cáo ném bỏ cây dao cán màu

đen vào bồn nuôi cá phía sau nhà bà M, ném bỏ cây dao cán màu vàng dùng

đâm ông L ở ao nuôi cá nhà ông S. Do trong người có rượu và tức giận việc ông

L la mắn bị cáo nên bị cáo mới dùng dao đâm vào người của ông L, bị cáo chỉ

đâm đại vào người bị hại, bị cáo không có ý thức đâm vào nơi xung yếu trên cơ

thể của bị hại và không có ý muốn tước đoạt mạng sống của bị hại. Sau khi xảy

ra vụ án, bị cáo có xin bà Dương Thị M (bà ngoại của bị cáo) số tiền 15.000.000 đồng để bồi thường cho ông L. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại Phan Văn L trình bày: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/11/2020,

trong lúc đang tỉa cây trước nhà của bị hại thì nghe bị cáo chửi thế lớn tiếng nên bị hại mới qua nhà của bị cáo để nói chuyện thì xảy ra cự cãi với bị cáo. Do thấy bị cáo đã say rượu, sợ xảy ra chuyện nên bị hại mới bỏ đi về nhà để tiếp tục làm việc, trong lúc làm việc thì thấy bị cáo 02 tay cầm 02 cây dao Thái Lan, tay phải cầm dao cán nhựa màu vàng, tay trái cầm dao cán nhựa màu đen nên bị hại mới nói với bị cáo là “mày xỉn rồi, khi nào hết xỉn thì nói chuyện”, rồi bị hại quay người lại để đi vào nhà mình. Khi bị hại vừa quay người lại thì bị cáo chạy lên bên trái ngang và song song với bị hại, tay phải cầm dao, mũi dao hướng ra ngoài đâm một cái từ trái qua phải, từ trước ra sau trúng vào vùng bụng trái của bị hại 01 cái rồi rút dao bỏ chạy. Sau đó, bị hại được đưa đến Trung tâm y tế huyện CM, Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang điều trị, đến ngày 24/11/2020 thì xuất viện. Về trách nhiệm hình sự, không yêu cầu xử lý hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, sau khi xảy ra vụ án, bà M có cho bị cáo số tiền 15.000.000 đồng để bồi thường chi phí điều trị cho bị hại. Hiện nay bà M đã chết, hàng thừa kế thứ nhất của bà M gồm: Ông Phan Văn L, ông Phan Văn B, bà Phan Thị Hoài D, bà Phan Thị Hoài M và ông Phan Phước T; ông L không yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất do sức khỏe bị xâm phạm và không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 15.000.000 đồng của bà M.

Ông Phan Phước T trình bày: Ông T không trực tiếp chứng kiến sự việc bị

cáo dùng dao đâm bị hại. Khi nghe tiếng bà Trần Thị H truy hô nên ông T chạy đến xem thì thấy ông L bị chảy máu ở vùng bụng và nghe ông L nói lại là do bị cáo Ph dùng dao đâm, còn bị cáo Ph đâm như thế nào thì ông T không biết. Ông T là con của bà Dương Thị M, sau khi xảy ra vụ án, bà M có cho bị cáo số tiền 15.000.000 đồng để bồi thường chi phí điều trị cho ông L, hiện nay bà M đã chết, hàng thừa kế thứ nhất của bà M gồm: Ông Phan Văn L, ông Phan Văn B, bà Phan Thị Hoài D, bà Phan Thị Hoài M và ông Phan Phước T; ông T không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 15.000.000 đồng của bà M.

Bà Phan Thị Hoài D trình bày: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 15/11/2020,

sau khi Ph uống rượu về thì phát sinh mâu thuẫn với ông L nên giữa bị cáo và bị hại xảy ra cự cãi. Sau đó, bị cáo Ph chạy từ trong nhà ra đến chỗ bị hại L làm việc và bà D nghe bị hại L tri hô là bị bị cáo Ph dùng dao đâm trúng vào bụng gây thương tích nên bà D tri hô cho mọi người đến đưa bị hại L đi cấp cứu. Việc bị cáo Ph dùng dao đâm người bị hại như thế nào thì bà D không nhìn thấy rõ. Sau khi xảy ra vụ án, bà M có cho bị cáo số tiền 15.000.000 đồng để bồi thường chi phí điều trị cho ông L, hiện nay bà M đã chết, hàng thừa kế thứ nhất của bà M gồm: Ông Phan Văn L, ông Phan Văn B, bà Phan Thị Hoài D, bà Phan Thị Hoài M và ông Phan Phước T; bà D không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 15.000.000 đồng của bà M.

Ông Phan Văn B và bà Phan Thị Hoài M trình bày: Sự việc bị cáo Ph cầm

dao đâm bị hại L như thế nào thì ông B và bà M không trực tiếp chứng kiến. Sau

khi xảy ra vụ án, bà M có cho bị cáo số tiền 15.000.000 đồng để bồi thường chi

phí điều trị cho ông L, hiện nay bà M đã chết, hàng thừa kế thứ nhất của bà M

gồm: Ông Phan Văn L, ông Phan Văn B, bà Phan Thị Hoài D, bà Phan Thị Hoài

M và ông Phan Phước T; ông B và bà M không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền

15.000.000 đồng của bà M.

Bà Trần Thị H trình bày: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 15/11/2020, sau

khi Ph uống rượu về thì phát sinh mâu thuẫn với ông L nên giữa Ph và L xảy ra

cự cãi. Sau khi cự cãi, Ph vào nhà rồi quay trở ra, trên 02 tay cầm 02 cây dao

Thái Lan, khi thấy bị cáo tiến lại gần bị hại thì bà H truy hô nên bị hại quay mặt

lại định bỏ vào nhà thì bị cáo tiến đến đứng song song ngang với bị hại rồi dùng

dao đang cầm trên tay phải đâm một cái từ trái qua phải trúng vào vùng bụng

của bị hại một cái rồi bỏ chạy nên bà H mới truy hô cho mọi người đến chở bị

hại đi cấp cứu.

Tại Công văn số 56/TLo-TTPY ngày 08/11/2022 của Trung tâm pháp y –

Sở Y tế tỉnh An Giang về việc xác định tỷ lệ thương tật từng vết thương xác

định “Sẹo hạ sường trái, trùng với vết mở thêm, đứng dọc, kích thước

(3,5x0,5)cm, sẹo lồi, sậm màu, bờ thẳng. Thấu bụng: Thủng gan hạ phân thùy

III, đã phẫu thuật khâu gan cầm máu. Thủng mạc nối nhỏ” có tỷ lệ thương tật

là 34%.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ

nguyên truy tố bị cáo Phan Văn Ph về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c

khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm

2017. Sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất vụ án, mức độ và hậu quả từ

hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,

phát biểu lời luận tội và quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị với Hội đồng

xét xử:

Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,

Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn Ph từ 05 (năm) năm tù đến 06 (sáu) năm tù về

tội “Cố ý gây thương tích”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu Tòa án giải quyết và những

người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Dương Thị M không yêu cầu Tòa

án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.

Về phần xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao Thái Lan, cán dao

bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và chứng cứ trong

hồ sơ vụ án: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

Đối với bà Dương Thị M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

đến vụ án. Tuy nhiên, sau khi Tòa án thụ lý vụ án, bà Dương Thị M đã chết vào ngày 12/10/2022. Căn cứ lời khai của ông Phan Văn L, ông Phan Văn B, bà Phan Thị Hoài D, bà Phan Thị Hoài M và ông Phan Phước T (các con ruột của bà Dương Thị M) thì hàng thừa kế thứ nhất của bà M hiện nay gồm có ông Phan Văn L, ông Phan Văn B, bà Phan Thị Hoài D, bà Phan Thị Hoài M và ông Phan Phước T nên Tòa án xác định người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Dương Thị M là ông Phan Văn L, ông Phan Văn B, bà Phan Thị Hoài D, bà Phan Thị Hoài M và ông Phan Phước T để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Quá trình điều tra, lời khai của bị cáo, người bị hại và người làm

chứng có mâu thuẫn với nhau về số lượng cây dao bị cáo sử dụng khi gây án, vị trí để các cây dao trong nhà bị cáo, cây dao bị cáo sử dụng đâm người bị hại, tư thế bị cáo cầm dao đâm người bị hại và vị trí bị cáo ném bỏ hung khí sau khi gây án nhưng Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Mới không tiến hành đối chất giữa bị cáo, bị hại và người làm chứng là có thiếu sót nhưng đã được Hội đồng xét xử tiến hành đối chất làm rõ tại phiên tòa.

Những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị

cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp lời khai người bị hại và người làm chứng đã được đối chất kiểm chứng tại phiên tòa; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 20/01/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Mới; Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 02/5/2021; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 224/22/TgT ngày 02/5/2021 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh An Giang; Công văn số 56/TLo-TTPY ngày 08/11/2022 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh An Giang về việc xác định tỷ lệ thương tật của người bị hại; ngoài ra còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 15/11/2020, tại Khóm LH, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống đời thường, bị cáo Phan Văn Ph đã có hành vi cầm dao Thái Lan dài khoảng 25cm, cán dao màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại trên tay phải rồi đâm 01 cái theo hướng từ trái qua phải, từ trước ra sau

trúng vào vùng bụng bên trái của bị hại Phan Văn L. Hậu quả làm bị hại Phan

Văn L bị thương tích ở vùng bụng trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích

gây nên hiện tại là 34%.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, hành vi của bị cáo Phan Văn Ph

đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được

quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa

đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Phan Văn Ph về tội danh và điều luật

đã viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của

pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý của xã hội, được mọi

người tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức

khỏe của người khác một cách trái pháp luật đều là hành vi nguy hiểm cho xã

hội và sẽ bị xử lý kịp thời, nghiêm minh bằng pháp luật.

Bị cáo Phan Văn Ph là một thanh niên trưởng thành, có khả năng phân

biệt việc nào đúng, việc nào sai, việc nào là vi phạm pháp luật. Lẽ ra, khi bị cáo

và bị hại xảy ra mâu thuẫn, với vai trò là người cháu của người bị hại thì bị cáo

phải bình tỉnh, tìm biện pháp giải quyết sao cho phù hợp với quy định của pháp

luật và đạo đức xã hội để giữ được tình cảm gia đình. Không làm được điều này,

với bản tính hun hăng, lại được kích thích bởi men rượu, bị cáo chọn biện pháp

xấu nhất để giải quyết mâu thuẫn. Sau khi xảy ra cự cãi, bị cáo liền vào nhà lấy

02 cây dao cầm trên 02 tay để tìm người bị hại; khi thấy bị cáo đang cầm dao, bị

hại yêu cầu bị cáo khi nào tỉnh rượu sẽ tiếp tục nói chuyện rồi quay lưng lại với

bị cáo định bỏ đi thì bị cáo tiếp tục tiến đến bên trái và song song với người bị

hại rồi cầm dao trên tay phải, mũi dao hướng ra ngoài đâm một cái theo hướng

từ trái qua phải, từ trước ra sau trúng vào vùng bụng trái của người bị hại một

cái rồi rút dao bỏ chạy. Hành vi của bị cáo làm cho người bị hại bị sẹo hạ sường

trái, đứng dọc, kích thước (3,5x0,5)cm, sẹo lồi, sậm màu, bờ thẳng; thấu bụng:

Thủng gan hạ phân thùy III, thủng mạc nối nhỏ với tỷ lệ tổn thương cơ thể do

thương tích gây nên là 34%.

Khi thực hiện hành vi, tuy bị cáo không nhầm vào nơi xung yếu trên cơ

thể người bị hại để gây thương tích và không mong muốn tước đoạt mạng sống

của người bị hại nhưng bị cáo biết rõ cây dao bằng kim loại dài khoảng 25cm là

một loại hung khí nguy hiểm, nếu sử dụng để đâm vào cơ thể người khác có thể

gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nhưng bị cáo cố ý sử dụng đâm vào vùng

bụng trái của người bị hại. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là

xâm phạm đến sức khỏe của người khác, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn

bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện, mặc cho hậu quả xảy ra. Hành vi của bị cáo

là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự hung hăn, xem thường pháp luật và xem

thường tính mạng, sức khỏe của người khác; hành vi này còn gây mất an ninh trật tự tại địa Ph, làm cho nhân dân hoang mang lo sợ hễ có mâu thuẫn, tranh chấp là xảy ra dùng vũ lực để giải quyết, làm ảnh hưởng xấu đến đời sống bình thường của xã hội. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống đời thường, bị cáo sử dụng dao Thái Lan đâm vào vùng bụng của người bị hại, bị cáo phạm tội với 02 tình tiết định khung hình phạt là “phạm tội có tính chất côn đồ” và “sử dụng hung khí nguy hiểm” nên cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm và áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người dân biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền nhân thân của người khác, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét: Bị cáo xuất thân từ thành phần

nhân dân lao động nghèo, học vấn thấp, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã đến cơ quan công an đầu thú; bị cáo có tác động tích cực đến gia đình để bồi thường số tiền 15.000.000 đồng cho người bị hại; từ khi bị khởi tố, điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải đối với hành vi vi phạm pháp luật của bản thân; người bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Phan Văn Ph thực hiện hành vi phạm tội, đã trực tiếp xâm hại đến

sức khỏe người bị hại thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất cũng như tinh thần cho người bị hại. Tuy nhiên, người bị hại không yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Đối với bà Dương Thị M đã bồi thường cho người bị hại số tiền

15.000.000 đồng thay bị cáo nhưng không yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ trả lại số tiền này. Đồng thời, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Dương Thị M gồm ông Phan Văn L, ông Phan Văn B, bà Phan Thị Hoài D, bà Phan Thị Hoài M và ông Phan Phước T không yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ trả lại số tiền 15.000.000 đồng mà bà Dương Thị M đã bồi thường cho người bị hại thay bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) cây dao Thái Lan, cán dao bằng

nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng (đã qua sử dụng) là tài sản và công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Phan Văn Ph bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo

quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo, người bị hại và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà

Dương Thị M có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều

333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều

51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Phan Văn Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn Ph 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương

tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 07/5/2022.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a

khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây dao Thái Lan, cán dao bằng nhựa màu đen,

lưỡi dao bằng kim loại màu trắng (đã qua sử dụng).

(Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh

An Giang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/11/2022 giữa Cơ

quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Mới và Chi cục thi hành án dân

huyện Chợ Mới)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phan Văn Ph phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình

sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng

hình sự năm 2015.

Bị cáo, người bị hại và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà

Dương Thị M có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn

15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, sự tự

nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,

Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được

thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ