vanban.org

Bản án 46/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thanh H. Chị Trần Thanh H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H2.

Về con chung: Chị Trần Thanh H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hải D, sinh ngày 24/5/2014, giới tính nam. Anh Nguyễn Thanh H2 chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị Trần Thanh H chưa yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thanh Tâm - Nguyễn Thanh Hùng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thanh H. Chị Trần Thanh H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H2.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VỊ THANH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/HNGĐ-ST
Ngày 23 – 3 - 2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông La Thanh Long.

Ông Nguyễn Minh Khả.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 23 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thanh H. (có mặt)

Địa chỉ: khu vực 2, phường III, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H2. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: khu vực 2, phường III, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thanh H trình bày:

Chị Trần Thanh H và anh Nguyễn Thanh H2 tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 24/02/2014 tại Ủy ban nhân dân phường I, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách không phù hợp. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng đến mức không thể hàn gắn được nữa nên chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh H2.

Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Hải D, sinh ngày 24/5/2014, giới tính nam. Con chung hiện tại đang sống chung với chị H. Nay chị H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H2 cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Trong bản tự khai ngày 19/01/2022 bị đơn anh Nguyễn Thanh H2 trình bày: Anh Nguyễn Thanh H2 và chị Trần Thanh H và có đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân phường I, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Hôn nhân là tự nguyện, không bị cưỡng ép.

Quá trình chung sống ban đầu cảm thấy hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung. Hiện anh H2 đã sống ly thân với chị H từ năm 2020 cho đến nay.

Cảm thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nay anh H2 đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Hải D, sinh ngày 24/5/2014, giới tính nam. Anh H2 đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng, không cấp dưỡng. Anh H2 có quyền thăm con không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Trần Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H2 và yêu cầu được nuôi con chung. Đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Đối với anh Nguyễn Thanh H2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thanh H và anh Nguyễn Thanh H2 tiến tới hôn nhân và đã đăng ký kết hôn vào ngày 24/02/2014 tại Ủy ban nhân dân phường I, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H2 là hợp pháp. Về yêu cầu xin ly hôn của chị H, trong quá trình chung sống, chị H và anh H2 thường xuyên xảy ra cãi vã, nguyên nhân do tính cách vợ chồng không phù hợp làm cho cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng. Chị H và anh H2 đã không còn yêu thương, quan H, chăm sóc, giúp đỡ nhau, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì yêu cầu ly hôn của chị H là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: quá trình chung sống chị H và anh H2 có một con chung tên Nguyễn Hải D, sinh ngày 24/5/2014, giới tính nam. Con chung hiện tại đang sống chung với chị H. Nay chị H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H2 cấp dưỡng. Xét thấy con chung từ lúc mới được sinh ra cho đến nay luôn được chị H chăm sóc giáo dục, chị H hiện tại có việc làm và thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi dưỡng con chung, con chung có nguyện vọng được sống chung với chị H sau khi chị H ly hôn, anh H2 cũng đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng. Sau khi cân nhắc việc đảm bảo tốt nhất quyền lợi của con chung sau khi cha, mẹ ly hôn về các mặt vật chất, tình cảm và điều kiện chăm sóc, giáo dục, cũng như tránh làm xáo trộn cuộc sống của cháu, Hội đồng xét xử giao con chung cho chị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét trong cùng vụ án.

Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét trong cùng vụ án.

Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thanh H phải chịu là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thanh H. Chị Trần Thanh H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H2.

2. Về con chung: Chị Trần Thanh H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hải D, sinh ngày 24/5/2014, giới tính nam.

Anh Nguyễn Thanh H2 chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị Trần Thanh H chưa yêu cầu.

Anh Nguyễn Thanh H2 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét trong cùng vụ án.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: buộc chị Trần Thanh H phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chị H được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001184 ngày 19/01/2022 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh. Chị Trần Thanh H không phải nộp thêm.

5. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi Tòa tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ