vanban.org

Bản án 46/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị B đối với anh Lưu Minh H.

Về con chung: Giao cháu Lưu Minh T, sinh ngày 04/7/2015 và cháu Lưu Khả V, sinh ngày 11/10/2017cho chị Nguyễn Thị B tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Hiện cháu Thư và cháu Vy đang sống cùng với chị B. Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thi B-Lưu Minh H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị B đối với anh Lưu Minh H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09–6– 2022
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Văn Vĩnh

2. Ông Trần Văn Nay

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Nhiều, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh B tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 25/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2022 về “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25A/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã C, huyện L, tỉnh B.

2. Bị đơn: Anh Lưu Minh H, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B1, xã C, huyện L, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 01 năm 2022 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án: Chị Nguyễn Thị B và anh Lưu Minh H chung sống với nhau vào năm 2015, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh B. Quá trình chung sống có 02 người con chung là cháu Lưu Minh T, sinh ngày 04/7/2015 và cháu Lưu Khả V, sinh ngày 11/10/2017, hiện cháu Thư và cháu Vy đang sống chung với chị B.

Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên nhân chị B yêu cầu ly hôn với ông H là do cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, đã ly thân 01 năm nay. Xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị B yêu cầu ly hôn với anh H.

Về phía bị đơn anh Lưu Minh H không có lời khai trong hồ sơ. Lý do, Tòa án nhiều lần triệu tập anh H đến Tòa án làm việc nhưng anh H không đến; Tòa án đến nhà lấy lời khai nhưng anh H không có nhà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh B phát biểu việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị B đối với anh Lưu Minh H. Về con chung: Đề nghị hội đồng xét xử giao cháu Thư và cháu Vy cho chị B tiếp tục nuôi dạy, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị B không yêu cầu anh H cấp dương nuôi con nên không đặt ra xem xét. , Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Ngày 26 tháng 01 năm 2022, chị Nguyễn Thị B nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn đối với anh Lưu Minh H. Anh Lưu Minh H có địa chỉ đăng ký thường trú tại ấp B1, xã C, huyện L, tỉnh B. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh B thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, chị B có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, riêng anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không rõ lý do nên Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt chị B, anh H theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về hôn nhân: Chị B và anh H tự nguyện chung sống vào năm 2015, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 70/2015, cấp ngày 27/5/2015 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh B cấp nên hôn nhân giữa chị B và anh H là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

. Chị B xác định trong thời gian chung sống, giữa chị B và anh H thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng ý kiến, thường xuyên gày cải. Khi mâu thuẫn, anh H có đánh chị. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, chị B và anh H đã ly thân hơn 01 năm nay. Nay chị B yêu cầu ly hôn với anh H. Phía anh H được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H không đến Tòa án làm việc nên anh H không có lời khai trong H sơ. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai chị B phù hợp với lời khai chị Lưu Thị L là chị ruột anh H. Chị L xác định, quá trình chung sống, anh H với chị B có mâu thuẫn, khi cải vả và trong lúc tức giận, anh H có đánh chị B mấy bạt tay. Anh H không còn sống chung với chị B mà về sống chung nhà với chị L hơn 06 tháng nay.

Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng phải biết yêu thương, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Hôn nhân giữa chị B và anh H không còn hạnh phúc, quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn này đã trầm trọng, chị B và anh H đã ly thân khoảng 01 năm nay. Chị B không còn tình cảm với anh H, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị B yêu cầu được ly hôn với anh H là có căn cứ, phù hợp với quy định Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B đối với anh H.

. Về con chung: Chị B và anh H có hai người con chung là cháu Lưu Minh T, sinh ngày 04/7/2015 và cháu Lưu Khả V, sinh ngày 11/10/2017, hiện cháu Thư và cháu Vy đang sống chung với chị B. Quá trình làm việc tại Tòa án, chị B yêu cầu nuôi cháu Thư và cháu Vy; không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho ai nuôi là phải xem xét toàn diện, đầy đủ đảm bảo điều kiện cho con chưa thành niên. Để đảm bảo sự ổn định sinh hoạt, ăn ở, chăm sóc, nuôi dạy cháu Thư và cháu Vy, do cháu Thư và cháu Vy còn nhỏ và đang sống cùng chị B nên cần tiếp tục giao cháu Thư và cháu Vy cho chị B tiếp tục nuôi dạy. Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình làm việc tại Tòa án, chị B không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về tài sản chung, nợ chung: Chị B xác định, vợ chồng chị chung sống không có tạo lập tài sản chung, nợ chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị B phải chịu 300.000 đồng, chị B đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000849 ngày 15 tháng 02 năm 2022 được chuyển thu án phí.

. Từ những phân tích trên cần chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị B đối với anh Lưu Minh H.

2. Về con chung: Giao cháu Lưu Minh T, sinh ngày 04/7/2015 và cháu Lưu Khả V, sinh ngày 11/10/2017cho chị Nguyễn Thị B tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Hiện cháu Thư và cháu Vy đang sống cùng với chị B.

Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung và không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

4. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị B phải chịu 300.000 đồng, chị B đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000849 ngày 15 tháng 02 năm 2022 được chuyển thu án phí.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ